Monday, February 24, 2014

5 phương diện của tình yêu trưởng thành



Dựa trên khái niệm hay biết, tỉnh thức (mindful) của đạo Phật, tác phẩm Trưởng thành trong tương giao (How to Be an Adult in Relationships) đã đề ra 5 tiêu chuẩn của tình yêu trưởng thành (mindful loving) và vai trò quan trọng của chúng trong các mối quan hệ trong suốt cuộc đời.

1. Để tâm tới/chú tâm vào (Attention) thực tại: quan sát, lắng nghe, và ghi nhận tất cả các cảm xúc hiện hành trong các mối quan hệ. 

2. Chấp nhận (Acceptance) bản thận và người khác như vốn vậy,

3. Trân trọng (Appreciation) tất cả tài năng, giới hạn, khát khao, nghịch cảnh gian nan của kiếp người.

4. Thể hiện tình cảm (Affection) qua sự ôm ấp vỗ về, với sự trân trọng.

5. Để cho (Allowing, xuôi thuận) cuộc đời và tình yêu thương được vận hành theo cách của chúng, với tất cả lạc thú và đau khổ của chúng mà không cố gắng kiểm soát mọi thứ.

Khi được nhận hiểu và thực hành nhuần nhuyễn, 5 khái niệm đơn giản này - Richo gọi là 5 chữ A - tạo nên nền tảng cho tình yêu trưởng thành. Chúng có thể giúp ta gạt bỏ đi những phán xét, sợ hãi, và đổ lỗi để hướng tới quan điểm sống cởi mở, từ ái và thực tế về cuộc đời và các mối quan hệ. Bằng cách cho và nhận 5 chữ A, các mối quan hệ trở nên sâu sắc và ý nghĩa hơn, chúng trở thành nền tảng cho sự chuyển hóa bản thân.


David Richo, How to Be an Adult in Relationships
Đỗ Hoàng Tùng dịch

Saturday, February 15, 2014

Trắc nghiệm tổn thương (3 - 6 tuổi)

Giai đoạn 3 - 6 tuổi là thời điểm để người ta bắt đầu hình thành nên bản sắc cho riêng mình. Nếu bị tổn thương, vướng mắc tâm lý ở quãng thời gian này, sẽ dẫn đến một số sự thiếu hụt, chưa hoàn thiện trong nhân cách. 

Để biết mình có gặp vấn đề trong giai đoạn này hay không, nếu có thì mức độ đến đâu, xin mời bạn làm bài trắc nghiệm sau.


1. Bạn gặp khó khăn trong việc xác định được con người/ giới tính thực của mình? Bạn cảm thấy tâm tính mình giống nữ trong khi về mặt sinh lý bạn lại là nam hoặc ngược lại.

Đúng____ Sai____


2. Ngay cả khi đã kết hôn, bạn vẫn cảm thấy có lỗi, xấu hổ khi quan hệ tình dục.


Đúng____ Sai____


3. Nói chung, bạn gặp có khó khăn trong việc nhận diện cảm xúc của mình.


Đúng____ Sai____


4. Bạn gặp khó khăn trong việc giao tiếp, chia sẻ với những người gần gũi (vợ chồng, con cái, sếp, bạn bè).


Đúng____ Sai____


5. Bạn luôn tìm cách kiểm soát cảm xúc của mình.


Đúng____ Sai____


6. Bạn cố gắng kiểm soát cảm xúc của những người xung quanh mình.


Đúng____ Sai____


7. Bạn thường khóc lóc mỗi khi giận dữ.


Đúng____ Sai____


8. Bạn thường nổi khùng nên mỗi khi sợ hãi hoặc tổn thương.


Đúng____ Sai____


9. Bạn gặp khó khăn trong việc bộc lộ cảm xúc.


Đúng____ Sai____


10. Bạn tin rằng chính mình là người chịu trách nhiệm cho hành vi và cảm xúc của người khác. Chẳng hạn, bạn cảm thấy mình có thể khiến ai đó buồn hoặc giận.

Đúng____ Sai____

11. Bạn tin rằng chỉ cần bạn cư xử khác đi, bạn có thể thay đổi được người khác.

Đúng____ Sai____

12. Bạn tin rằng chỉ cần ước muốn điều gì, thì điếu đó có thể trở thành hiện thực.

Đúng____ Sai____

13. Trong khi giao tiếp, bạn thường ngần ngại khi phải hỏi lại điều mình chưa hiểu rõ.

Đúng____ Sai____

14. Bạn thường hành động theo phán đoán hoặc những giải định chưa được kiểm chứng của mình, coi chúng như là sự thật.

Đúng____ Sai____

15. Bạn cảm thấy mình có trách nhiệm đối với những rắc rối trong cuộc hôn nhân của cha mẹ.

Đúng____ Sai____

16. Bạn nỗ lực thành công để cha mẹ bạn có thể cảm thấy tự hào, vui vẻ hơn. 

Đúng____ Sai____

Nếu bạn trả lời "đúng" càng nhiều, thì mức độ thiếu hụt/tổn thương của bạn trong giai đoạn từ 9 tháng đến 3 tuổi càng lớn.

John Bradshaw, Homecoming: Reclaiming and Championing Your Inner Child
Đỗ Hoàng Tùng dịch

Đọc thêm:

Tâm lý trẻ em (3 - 6 tuổi)


Đến khoảng 3 tuổi bạn bắt đầu thắc mắc về cuộc sống xung quanh, bạn hỏi rất nhiều câu hỏi tại sao. Bạn hỏi như vậy không phải bởi vì bạn ngô ghê, mà bởi vì nó nằm trong kế hoạch sinh hóa của trời đất. Bạn thắc mắc bởi vì nguồn sinh lực trong bạn, bản thể của bạn, thúc đẩy bạn hướng tới một cuộc sống không ngừng mở rộng.

Ta hãy tóm tắt lại sự trưởng thành của bạn cho đến bây giờ: bạn được đón chào khi đến với cuộc đời này và bạn biết rằng bạn có thể tin tưởng thế giới xung quanh đủ để các nhu cầu của bạn được đáp ứng, bạn cũng phát triển đủ năng lực và kỷ luật để tin tưởng bản thân. Giờ bạn phải phát triển năng lực mường tượng để xem mình là ai, mình muốn sống một cuộc đời như thế nào. Biết được mình là ai nghĩa là có một bản tính riêng, nó bao gồm giới tính của bạn, niềm tin về bản thân và cả mộng tưởng của bạn. Trẻ tuổi mẫu giáo rất hay hỏi tại sao bởi vì có quá nhiều thứ trẻ muốn tìm hiểu. Một vài người trong chúng ta đến giờ vẫn còn chưa cảm thấy chưa được thỏa mãn hết trí tò mò của mình.

Bởi việc tìm hiểu xem mình là ai, mình muốn làm gì với cuộc đời mình là rất khó khăn, nên để giúp chúng, trời đất đã trao cho trẻ một sự bảo vệ đặc biệt. Sự bảo vệ đặc biệt này được gọi là vị kỷ. Trẻ vị kỷ theo bản năng tự nhiên. Chúng không ích kỷ. Sự vị kỷ của chúng là một sự tất định về mặt sinh học, không phải là một lựa chọn. Tới trước 6 tuổi, trẻ hoàn toàn không có khả năng hiểu thế giới từ góc nhìn của người khác. Một đứa trẻ mẫu giáo có thể phần nào thông cảm với người khác, nhưng nó không thể đi guốc trong bụng họ. Năng lực làm điều đí sẽ không thực sự hoàn thiện cho đến độ 16 tuổi.

Trẻ ở giai đoạn mẫu giáo cũng rất ngây thơ. Chúng luôn thử nghiệm với thế giới xung quanh để có thể phân biệt được đâu là thực tại, đâu là huyễn tưởng. Đây cũng là một cách để trẻ khám phá ra năng lực của mình. Thử nghiệm là để xem khả năng của mình đến đâu.

Trẻ ở giai đoạn mẫu giáo cũng rất độc lập. Chúng luôn thắc mắc, dần hình thành các niềm tin, mường tượng về tương lai, cố gắng tìm hiểu xem thế giới xung quanh vận hành ra sao và điều gì khiến cho mọi việc xảy ra. Khi chúng tạo dựng được một nhận thức nhân quả phức hợp hơn, chúng sẽ học cách tác động tới mọi sự. Đây là việc làm tự nhiên, lành mạnh của trẻ.

Nhiệm vụ của cha mẹ là dạy trẻ và làm gương cho trẻ. Người cha điển hình cho đàn ông, còn người mẹ điển hình cho phụ nữ. Cha mẹ cũng phải là tấm gương về một mối quan hệ tình cảm thân thiết, về giới tính lành mạnh. Hơn nữa, cha mẹ cần làm mẫu cho trẻ biết thế nào là giao tiếp hiệu quả, khéo léo, chẳng hạn như biết ăn nói sao cho sáng tỏ, biết lắng nghe, hỏi xin cái mình muốn, cách giải quyết mâu thuẫn. 

Các bé trai cần được gắn bó với người cha. Điều này chỉ có thể có được nếu người cha dành thời gian cho con trai mình. Sự gắn bó đòi hỏi phải có sự xúc chạm về thân thể (ôm ấp, vỗ về) cũng như chia sẻ cảm xúc. Các bé gái cũng rất cần có một người cha, nhưng nhu cầu đó không thiết yếu bằng các cậu bé. Bé gái vốn đã gần gũi với người mẹ và cần phải tách ra khỏi mẹ. Bé trai cũng gắn bó với người mẹ, nhưng (phải giữ khoảng cách) không như bé gái, bởi văn hóa cấm kị loạn luân. Bé trai cần phải giữ mình khỏi mang những tính cách được phóng chiếu sang từ người mẹ.

Khi bé trai gắn bó với người cha, cậu sẽ muốn trở thành người giống như cha. Cậu bắt đầu bắt chước các hành vi, lối ứng xử của cha. Có thể cậu nói với mọi người rằng lớn lên, cậu muốn được giống như cha, và bắt chước ứng xử như cha khi chơi trò tưởng tượng. Một số cậu nhóc sẽ có người hùng để ngưỡng mộ và noi gương. Anh hùng của tôi là những cầu thủ bóng chày, tôi sưu tập các thẻ bóng chày và mặc đồng phục của đội tuyển ưa thích. Một quả bóng có chữ ký của siêu sao là kỷ vật yêu quý của tôi. Cũng thế, các bé gái cũng bắt đầu bắt chước cử chỉ của mẹ. Chúng chơi đùa với búp bê như những người bạn thật, cho búp bê lên xe ngựa đẩy đi, và cho chúng ăn uống. Các bé gái cũng có thể trở nên hấp dẫn khi chúng chơi trò ăn mặc diện và muốn được trang điểm. 

Khuynh hướng đồng tính về mặt sinh lý cũng có thể xuất hiện vào giai đoạn này. Tôi muốn nhấn mạnh rằng ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy đồng tính là một xu thế thiên bẩm, không phải bệnh lý hay rối loạn tâm lý trong quá trình trưởng thành. (Trong nhiều năm làm trị liệu, tôi chưa từng tham vấn cho người đồng tính nam nào lại không biết rõ về xu hướng giới tính của mình từ tuổi đó trở đi.) Mối quan tâm của tôi… dành cho tất cả mọi người bị tổn thương thời thơ ấu. Hầu hết những người đồng tính nam đều mang trong mình những mặc cảm, tủi hổ, đăc biệt là ở các cậu bé “bóng lộ”, không thể hiện ra tính cách và hành vi nam tính. Nếu bạn là người đồng tính nam/nữ, cậu/cô bé hồi mẫu giáo bên trong bạn cần được biết rằng: “Chẳng có gì là không phải, là sai trái với con người thật của bạn cả! Bạn cực kỳ hoàn hảo, như chính bạn vốn vậy!”

Phẩm chất trẻ cần có ở tuổi mẫu giáo

Erikson nói rằng ở tuổi mẫu giáo, trẻ có thể rèn luyện được lối sống có tính mục đích. Ông tin rằng tính mục đính sẽ đến từ cảm thức về bản sắc cá nhân. Nếu được phát triển lành mạnh đến tuổi mẫu giáo, trẻ có thể tự nhủ: “Mình có thể tin tưởng vào thế giới xung quanh, mình có thể tin tưởng vào bản thân, mình là người đặc biệt và độc đáo. Mình là một đưa con trai/gái. Mình có thể bắt đầu hoạch định, hình dung về tương lai dù cho mình chưa biết chính xác mình muốn làm gì.” 

Sự tự tin đến từ việc người ta có một bản sắc cá nhân, sự tự tin chủ động và ra quyết định. Một đứa trẻ mẫu giáo lành mạnh sẽ nghĩ: “Mình có thể trở thành con người ta muốn trở thành và tất cả cuộc đời còn đang ở phía trước. Mình có thể bắt chước điệu bộ như cha như mẹ. Mình mơ ước trở thành một người đàn ông như cha hay một người phụ nữ như mẹ. Mình mơ ước trở thành một người lớn và tạo dựng cuộc đời của chính mình.”

Rối loạn, vướng mắc tâm lý

Rối loạn, vướng mắc tâm lý ở giai đoạn này cho thấy những hệ quả lâu dài của các vấn đề gia đình. Trẻ em trông cậy cha mẹ sẽ cung cấp cho chúng các mẫu hình lành mạnh về cách hành xử của một người trưởng thành. Nếu cha mẹ là những người có tuổi thơ bị tổn thương, mặc cảm, hay lệ thuộc vào vật chất bề ngoài, thì trẻ gần như không thể tạo dựng được các mối quan hệ gắn bó lành mạnh.

Những người có tuổi thơ bị tổn thương, từ rất lâu họ đã chôn vùi cái ngã chân thật của mình, họ đã mất đi ý thức về bản thể đích thực của mình. Họ không thể chia sẻ bản thân với người yêu/vợ/chồng mình bởi vì họ không có một cái gì gọi là chính mình cả. Khi kết hôn, họ chọn những người phóng chiếu hình ảnh cha mẹ họ - người có cả những nét tích cực cũng như tiêu cực và người sẽ giúp họ tiếp tục đảm nhận vai trò như ở trong gia đình mình. Người hay quan tâm chăm lo cho người khác thường hay lấy người thường ở vai trò nạn nhân, để mỗi người có thể tiếp tục đóng vai diễn của mình. Mỗi người đều đặt vào người kia rất nhiều tình yêu, niềm tin và hy vọng, điều này thể hiện rõ nhất khi họ cố gắng chia tay. Họ có thể muốn tự tử, bởi cảm giác không thể sống thiếu người kia. Người hay bị đeo bám thì lại thường lấy người hay bị bỏ rơi. Khi người sợ bỏ rơi tiến lại gần, người sợ bị đeo bám sẽ bỏ chạy, Sau một thời gian xa cách, người sợ đeo bám trở nên cô đơn đủ để cho phép người sợ bỏ rơi lại gần mình trong một khoảng thời gian. Người sợ bị bỏ rơi, sợ cảm giác từng bị xa cách người yêu, sẽ nhanh chóng tỏ ý muốn chiếm hữu và đeo bám, chính điều này lại thúc đẩy người đó rời xa họ. Trò chơi bập bênh này sẽ kéo dài suốt cuộc hôn nhân. Người này lại tạo nên phản ứng hồi đáp của người kia.

John Bradshaw, Homecoming: Reclaiming and Healing Your Inner Child
Đỗ Hoàng Tùng dịch

Tuesday, January 28, 2014

Cái tôi và tự ngã (I)


Các hình trên thể hiện cho các giai đoạn tiến triển của sự phân tách cái tôi khỏi tự ngã xuất hiện trong quá trình trưởng thành tâm lý. Khu vực cái tôi bị gạch chéo là để chỉ phần cá tính của cái tôi còn đồng nhất với tự ngã. Dường nối trọng tâm của cái tôi tới trọng tâm của tự ngã thể hiện cho trục nối cái tôi và tự ngã - sợi dây liên kết trọng yếu giữa cái tôi và tự ngã nhằm đảm bảo cho sự hội nhập của cái tôi. Ta nên hiểu rằng các hình trên chỉ dùng để minh họa cho một khía cạnh nhất định, và do đó nó không chính xác trong các khía cạnh khác. Chẳng hạn, thông thường chúng ta hay định nghĩa tự ngã như là toàn thể tâm thức, trong đó tất yếu có cả cái tôi. Theo các hình này và theo phương pháp đang trình bày, cứ như thể là cái tôi và tự ngã lại trở thành hai thực thể tách biệt nhau, cái tôi là vòng tròn nhỏ, còn tự ngã là vòng tròn to toàn thể. Rắc rối này vốn có ngay trong chính vấn đề. Nếu về lý mà nói, chúng ta chắc chẳn phải phân biệt giữa cái tôi và tự ngã, điều này lại mâu thuẫn với định nghĩa về tự ngã của chúng ta. Sự thật là, khái niệm tự ngã là một nghịch lý. Nó đồng thời vừa là trung tâm lại vừa là chu vi của vòng tròn toàn thể. Coi cái tôi và tự ngã như hai thực thể tách biệt chỉ đơn thuần là phương tiện lý tính cần thiết để thảo luận về chúng. 


Hình 1 (H.1) tương ứng với trạng thái hỗn mang sơ khai của Neumann (1). Chưa có gì xuất hiện ngoại trừ tự ngã-viên mãn (2). Phôi thai của cái tôi mới chỉ xuất hiện ở dạng tiềm năng. Cái tôi và tự ngã là một, điều này có nghĩa chưa có cái tôi, Đây là trạng thái ban đầu khi cái tôi còn đồng nhất hoàn toàn với tự ngã.

Hình 2 (H.2) cho thấy cái tôi đang trồi lên, biểu thị cho sự bắt đầu tách biệt khỏi tự ngã nhưng trọng tâm và một phần lớn của nó vẫn còn đồng nhất với tự ngã. 

Hình 3 (H.3) trình bày cho ta thấy giai đoạn cao hơn của sự trưởng thành. Tuy nhiên, cái tôi vẫn còn đồng nhất một phần với tự ngã. Trục nối cái tôi và tự ngã trong hình 1 và 2 hoàn toàn vô thức, do đó không thể phân biệt với phần cá tính của cái tôi còn đồng nhất với tự ngã, giờ đã phần nào được ý thức.

Hình 4 (H.4) là một cực điểm lý thuyết lý tưởng có lẽ không tồn tại trong thực tế. Nó biểu thị cho sự tách biệt hoàn toàn của cái tôi khỏi tự ngẫ và trục nối cái tôi và tự ngã được ý thức trọn vẹn.

Các hình này được vẽ ra để minh họa cho luận điểm rằng sự trưởng thành tâm lý được đặc trưng bởi hai quá trình xảy ra đồng thời, ấy là sự tách biệt từng bước của cái tôi khỏi tự ngã và sự trồi lên bề mặt ý thức dần dần của trục nối cái tôi và tự ngã. Nếu đây là sự hình dung đúng thực tế, thì nó nghĩa là sự tách biệt của cái tôi khỏi tự ngã và ý thức tăng dần của cái tôi về sự phụ thuộc vào tự ngã là hai mặt của một tiến trình hiển lộ duy nhất liên tục từ lúc sinh ra cho tới khi chết đi. Mặt khác, các hình này cũng thể hiện sự hợp lý thông thường khi cho rằng: nhận thức về tính tương đối của cái tôi xảy ra vào nửa sau của cuộc đời. Nếu ta coi hình 3 tương ứng với với tuổi trung niên, ta sẽ thấy rằng chí tới giai đoạn này, phần trên của trục nối cái tôi và tự ngã mới bắt đầu trồi lên bề mặt ý thức.

Edward Edinger, Ego and Archetypes, pp.9-10
Đỗ Hoàng Tùng dịch

(1) Nguyên văn là “original uroboric state”.“Uroboric” ở đây là tính từ, bắt nguồn từ “uroboros”, danh từ Hy Lạp có nghĩa đen là con rắn tự cắn đuôi mình. Nó thường được dùng để biểu tượng cho vòng tuần hoàn, đặc biệt là những gì luôn tái tạo lại chính mình: sinh tử rồi tử sinh, hay vòng luân hồi vĩnh cửu. Erich Neumann, nhà tâm lý học theo trường phái Jung, sử dụng nó như là hình tượng của “trạng thái ban đầu” trước khi cái tôi được sinh ra, để diễn tả kinh nghiệm sơ khai vô phân biệt của toàn nhân loại cũng như từng đứa trẻ. 

(2) Nguyên văn là “Self-mandala”. “Mandala” là danh từ Phạn ngữ có nghĩa đen là vòng tròn. Nó là biểu tượng nghi lễ và tâm linh trong Ấn Độ giáo và Phật giáo, biểu thị cho vũ trụ. Dạng căn bản của mandala là một hình vuông có bốn cửa, bao bọc bên ngoại một hình tròn có chấm điểm ở giữa. Trong tâm lý học theo trường phái Jung, các mandala thường xuất hiện trong các giấc mơ, huyễn tưởng. Nó biểu tượng cho tính toàn thể của tự ngã, thường xuất hiện để lập lại sự cân bằng trong các giai đoạn tâm lý bất ổn, rối loạn.

Đọc thêm:

Saturday, January 18, 2014

Cái tôi và tự ngã (III)


Tự ngã, trong vai trò trung tâm và toàn thể của tâm thức có khả năng điều hòa tất cả các đối lập, có thể được coi là cơ quan [có khả năng] bao dung, chấp nhận bậc nhất. Bởi nó bao hàm toàn thể, nó phải có khả năng bao dung, chấp nhận tất cả các thành phần của đời sống tâm thức cho dù chúng có thể đối nghịch [với nhau] thế nào đi nữa. Chính khả năng này của tự ngã giúp cho cái tôi được mạnh mẽ và ổn định. Khả năng bao dung, chấp nhận này được chuyển tới cái tôi qua trục nối cái tôi và tự ngã. Thiếu khả năng bao dung, chấp nhận bản thân là triệu chứng cho thấy trục nối này đã bị tổn thương. Cá nhân cảm thấy rằng y không xứng đáng để sống trên đời hay để sống đúng với con người mình. Tâm lý trị liệu trao cho những người như thế một cơ hội để trải nghiệm cảm giác được chấp nhận, được bao dung. Trong những ca trị liệu thành công, điều này có thể đồng nghĩa với sự hàn gắn lại trục nối cái tôi và tự ngã, phục hồi lại mối liên lạc với cội nguồn của sự lmạnh m và bao dung trong nội tâm, cho phép bệnh nhân có thể tự do sinh sống và trưởng thành. 

Những bệnh nhân có trục nối cái tôi và tự ngã bị tổn thương bị ấn tượng hơn cả khi khám phá ra rằng nhà trị liệu chấp nhận con người họ. Ban đầu, họ không thể nào tin được điều này. Rất có thể họ sẽ không còn tin rằng mình được chấp nhận, nếu họ chỉ coi đó là một kỹ thuật nghề nghiệp chứ [nhà trị liệu] chẳng thật lòng chút nào. Tuy nhiên, nếu họ nhận thấy sự chấp nhận của nhà trị liệu là thật lòng, một sự chuyển dịch mạnh mẽ sẽ nhanh chóng xuất hiện. Nguồn gốc của sự chuyển dịch này dường như là sự phóng chiếu của tự ngã, đặc biệt là chức năng như một cơ quan bao dung, chấp nhận. Tới thời điểm này, những phẩm chất trọng yếu của nhà trị liệu-tự ngã sẽ trở nên nổi bật. Nhà trị liệu, với tư cách một con người, trở nên hết sức đặc biệt đối với cuộc đời và tư tưởng của người bệnh. Những buổi trị liệu trở thành những ngày vô cùng quan trọng và ý nghĩa trong khoảng thời gian đó. Một tâm điểm mang đến ý nghĩa và trật tự đã xuất hiện ở nơi mà trước đây chỉ có hỗn độn và tuyệt vọng. Những hiện tượng này ngụ ý rằng sự hàn gắn lại trục nối cái tôi và tự ngã đang diễn ra. Những buổi gặp gỡ với nhà trị liệu sẽ được trải nghiệm như là một mối liên hệ tươi mới trở lại với cuộc đời, đem đến cảm giác hy vọng và lạc quan. Ban đầu, những hiệu ứng như thế đòi hỏi sự liên hệ thường xuyên và suy giảm nhanh chóng [trong khoảng thời gian] giữa các buổi trị liệu. Nhưng dần dần, phần còn ngầm ẩn của trục nối cái tôi và tự ngã sẽ hiện ra ngày càng nhiều hơn.

Trải nghiệm được bao dung, chấp nhận không chỉ hàn gắn lại truc nối cái tôi và tự ngã mà còn tái kích hoạt phần cá tính cái tôi còn đồng nhất với tự ngã. Điều này chắc chắn sẽ xảy ra chừng nào trục nối cái tôi và tự ngã còn hoàn toàn vô thức (trạng thái được biểu thị bằng đồ hình 2). Do vậy những thái độ kiêu căng tự mãn, những kỳ vọng sở hữu,... sẽ xuất hiện, chúng sẽ kiêu kích thêm sự chối bỏ từ nhà trị liệu hay từ môi trường sống. Một lần nữa, trục nối cái tôi và tự ngã sẽ bị tổn thương, tạo ra tình trạng phần nào bị xa lánh, ghét bỏ. Lý tưởng mà nói, trong tâm lý trị liệu, và trong sự trưởng thành tự nhiên, người ta sẽ hy vọng rằng sự giải trừ từng bước phần cá tính của cái tôi còn đồng nhất với tự ngã sẽ êm đẹp, nhẹ nhàng đến mức nó sẽ không gây ra tổn thương nào cho trục nối cái tôi và tự ngã. Trong thực tế, hoàn cảnh đáng ao ước này chắn chắn chưa từng xảy ra. 

Edward Edinger, Ego and Archetypes, pp.40-41
Đỗ Hoàng Tùng dịch

Đọc thêm:

Monday, January 6, 2014

Tâm lý trẻ em (0 đến 9 tháng)


Cây cầu tương giao
Trong giai đoạn sơ sinh, mỗi đứa trẻ cần được đón chào khi đến với cuộc đời này. Trẻ cần có sự gắn bó sâu sắc với bà mẹ, người sẽ đóng vai trò làm tấm gương phản chiếu cho trẻ. Sơ sinh được gọi là giai đoạn cộng sinh bởi trẻ hoàn toàn lệ thuộc vào bà mẹ. Trẻ dựa vào bà mẹ để hiểu biết chính mình và để được đáp ứng các nhu cầu sinh tồn căn bản. Ở giai đoạn này, trẻ chưa có sự phân biệt giữa “ta” và “người khác”. Điều này có nghĩa là một cách tự nhiên và vô thức, trẻ hòa hợp với chính mình, nhưng trẻ lại chưa có khả năng phản ánh và biết một cách ý thức trẻ là một con người độc lập. Trẻ cần được ánh mắt và giọng điệu của bà mẹ phản ánh lại để trẻ nhận diện được biểu hiện của mình. Trẻ cần bà mẹ làm tấm gương phản chiếu lại trước khi trẻ có thể tự hiểu chính mình. Cuộc sống bắt đầu bằng một sự kết hợp hiện hữu đích thực: vận mệnh của trẻ phụ thuộc vào người tình cờ là mẹ của trẻ… Nếu bà mẹ luôn ở bên cạnh trẻ, một mối quan hệ gắn bó sẽ hình thành. Mối quan hệ này được gọi là “cây cầu tương giao,” nền tảng cho mọi mối quan hệ trong tương lai. Nếu cây cầu này được xây dựng dựa trên sự trân trọng và thương mến lẫn nhau, nó tạo dựng hình mẫu cho các mối quan hệ mới của trẻ sau này. Nếu trẻ không được mẹ quan tâm đúng mức hay thậm chí bỏ mặc, “cây cầu” sẽ đứt gẫy và trẻ sẽ đi đến chỗ tin rằng nó không có quyền dựa dẫm vào bất kỳ ai hết. Điều này sẽ khiến trẻ bắt đầu các mối quan hệ bệnh lý với đồ ăn, chất gây nghiện, tình dục… trong tương lai.


Ái kỷ lành mạnh
Trẻ cần một bà mẹ luôn coi trọng mình, để xác tín cho trẻ biết trẻ là một đứa bé đẹp đẽ, hoàn hảo, để trẻ biết rằng luôn có người ở bên cạnh trẻ khi trẻ cần… Tất cả những điều này hợp thành cái mà Alice Miller gọi là "đáp ứng sự ái kỷ lành mạnh của trẻ." Trẻ cần được yêu thương đúng như trẻ vốn vậy. Trẻ cần nhận được khen ngợi và trân quý. Trẻ cần được ôm ấp, vuốt ve, cưng nựng. Trẻ cần chắc rằng bà mẹ sẽ không bỏ mặc trẻ. Khi những nhu cầu này được đáp ứng đầy đủ ở tuổi thơ, thì người ta sẽ không còn đòi hỏi chúng khi đã trưởng thành.

Phản ánh đồng cảm
Trong giai đoạn này, trẻ vẫn cảm giác mình là một phần của bà mẹ. Trẻ cảm thấy những gì bà mẹ cảm thấy. Trẻ cáu bẳn khi bà mẹ cáu bẳn. Trẻ cảm nhận về bản thân đúng theo những gì bà mẹ cảm nhận về trẻ. Với trẻ sơ sinh, cảm giác là căn bản. Không thành vấn đề việc bà mẹ làm tốt vai trò của mình đến đâu. Điều thực sự quan trọng là bà mẹ cảm thấy ra sao về đứa con của mình. Nếu bà mẹ tức giận vì lỡ mang thai trẻ, nếu bà mẹ tin rằng bà ta phải kết hôn vì lỡ có trẻ, trẻ sẽ cảm nhận được một cách sâu xa điều này.



Ôm ấp vuốt ve
Trẻ sơ sinh cần được ôm ấp, vuốt ve, cưng nựng để trẻ cảm nhận rằng mình được yêu thương, được chăm sóc và được an toàn. Trẻ cần được ăn khi đói. “Ăn đúng bữa” từng là cực hình gây kinh hoàng cho nhiều thế hệ trẻ em. Sam Keen đã chỉ ra rằng các thiền sư đã mất rất nhiều năm để đạt được cái mà mỗi đứa trẻ đều biết - mệt thì ngủ, đói thì ăn. Điều mỉa mai là sự phúc lạc đầy chất thiền này đã bị xã hội hiện đại phá hủy một cách bài bản và hệ thống. Trẻ cũng cần được tắm rửa sạch sẽ. Trẻ chưa kiểm soát được chức năng tiêu hóa nên trẻ cần mẹ rửa vệ sinh. Đây là những nhu cầu trẻ không thể tự đáp ứng, mà trẻ cần phụ thuộc vào mẹ. 

Lạc quan tin tưởng
Trẻ cần được nghe giọng nói ấm áp và ngọt ngào của mẹ. Trẻ cần rất nhiều những tiếng “ú òa” để trẻ cảm thấy rằng mình được quan tâm. Trẻ cần được nghe giọng nói đầy vững vàng, an toàn để trẻ cảm thấy an toàn. Có lẽ hơn tất thảy, trẻ cần được cảm nghiệm một người tin tưởng, lạc quan vào cuộc sống và sự hiện hữu của mình. Erik Erikson cho rằng thử thách của giai đoạn đầu đời là thiết lập một ý niệm về sự hiện hữu, mà đặc trưng là một cảm giác tin tưởng vào thế giới bên ngoài. Carl Rogers từng nói rằng một trong những điều có ý nghĩa nhất mà ông học hỏi được là “thực tế thì thân thiện”’ - tức là, thực tại đời sống có thể tin tưởng được. Tin tưởng hay không tin tưởng là thử thách đầu tiên mà cuộc sống dành cho trẻ. Nếu trẻ phát triển theo hướng tin tưởng, thì một phẩm chất căn bản của cá nhân được hình thành. Phẩm chất này sẽ hình thành nên nền tảng cho niềm lạc quan hy vọng. Nếu cuộc đời này về cơ bản là có thể tin tưởng, thì việc người ta có thể sống với đúng bản chất của mình là điều khả thể. Trẻ có thể tin tưởng rằng những gì người ta cần luôn sẵn có trong đời.

Pam Levin cho rằng giai đoạn đầu tiên của cuộc đời này là thời kỳ trẻ phát triển năng lực hiện hữu. Nếu tất cả những yếu tố ta vừa nói trên có mặt, thì trẻ có thể sống với đúng bản chất của mình. Bởi thế giới bên ngoài luôn an toàn, và bởi bố mẹ trẻ đã tự đáp ứng được các nhu cầu tâm lý của mình bằng tình yêu thương và sự hỗ trợ lẫn nhau. Trẻ sẽ không cần phải sống khác vởi bản chất của mình để làm vui lòng bố mẹ. Trẻ có thể vui sống theo cách của mình.

John Bradshaw, Reclaiming and Healing Your Inner Child
Đỗ Hoàng Tùng phỏng dịch

Saturday, January 4, 2014

Hệ quả do tổn thương từ giai đoạn 9 tháng - 3 tuổi



Những biểu hiện không lành mạnh ở tâm lý người trưởng thành do tổn thương trong giai đoạn từ 9 tháng đến 3 tuổi có thể được tóm tắt lại như sau:

Tổn thương chân ngã - chối bỏ cái tôi đích thực

Bạn luôn cảm thấy con người mình có cái gì đó không ổn, khiến bạn không bao giờ cảm thấy thực sự bình an.

Mặc cảm xấu hổ tiêu cực

Mặc cảm này bạn chẳng có điểm gì tốt đẹp hết. Tất cả những gì bạn cảm thấy, bạn làm và bạn nghĩ là sai trái, xấu xa. Bạn là một con người đầy lỗi lầm và khiếm khuyết.

Dễ dẫn tới các hành vi phạm pháp

Thiếu kỷ luật tạo nên các hành vi phạm pháp. Một kẻ phạm pháp tìm mọi cách để có được cái mình muốn bất chấp hậu quả. Anh ta không hề có ý thức trách nhiệm về hành vi sai trái/để lại hậu quả tai hại của mình.

Quá khắc kỷ (nghiêm khắc với bản thân)

Để cảm thấy mình có giá trị, “đứa trẻ bên trong tâm hồn bạn” sẽ luôn tìm cách trở thành người hữu ích, đem đến niềm vui, sự hài lòng cho những người xung quanh. Bạn học cách sống tuân thủ nghiêm ngặt theo các luật lệ. Bạn rất hay phê phán lỗi lầm (dù là nhỏ nhặt) của bản thân và người khác.

Nghiện ngập

Khả năng chối từ, kiềm chế trước các ham muốn của bạn rất thấp. Bạn là người nghiện mua sắm, nghiện ăn uống, nghiện tình dục,....

Cô độc

“Đứa trẻ bên trong tâm hồn bạn” có xu hướng tự cô lập bản thân. Bởi đấy là cách duy nhất để nó cảm thấy rằng nó an toàn, nó có khoảng không gian riêng không bị ai xâm phạm. Không ai có thể làm tổn thương bạn nếu bạn không tương tác với bất kỳ ai.

Thiếu cân bằng

Bởi “đứa trẻ bên trong tâm hồn bạn” chưa bao giờ học được cách cân bằng giữa “buông bỏ” và “nắm giữ”. Nếu là thuộc dạng “nắm giữ”, bạn có xu hướng keo kiệt về tiền bạc, cảm xúc, lời khen, yêu thương. Nếu thuộc dạng “buông bỏ”, bạn có xu hướng sống phóng túng theo bản năng... Sự thiếu cân bằng của bạn có thể dẫn đến sự kiểm soát con cái quá mức hoặc bạn lại không cho chúng bất cứ giới hạn thực sự nào. Không có kỹ năng sống tự lập, bạn sẽ thường gặp phải nhiều rắc rối dai dẳng trong các mối quan hệ tình cảm. Hoặc bạn sẽ trở nên quá quấn quít, lụy thuộc vào người yêu, hoặc bạn sẽ quá xa cách trong các mối quan hệ tình cảm.

John Bradshaw, Reclaiming and Healing Your Inner Child
Đỗ Hoàng Tùng phỏng dịch