Monday, October 16, 2023

Carl Jung viết về khái niệm phóng chiếu



Phóng chiếu, hay ngoại chiếu (Projection). Một tiến trình tự động qua đó những nội dung của vô thức của bản thân lại được nhận ra ở người khác.
 
Cũng giống như việc ta có xu hướng giả định rằng thế giới giống như những gì ta thấy, ta thường ngây thơ cho rằng người khác cũng không khác gì những ta mường tượng về họ… Tất cả những nội dung vô thức của ta vẫn luôn được phóng chiếu vào môi trường xung quanh, và chỉ khi nào ta nhận ra một số thuộc tính của khách thể là kết quả của sự phóng chiếu hay ảnh tượng [imagos | hình ảnh tưởng tượng], thì ta có thể phân biệt được chúng với những thuộc tính thực sự của khách thể... Với tâm lý bán tín bán nghi, ta sẽ luôn thấy những lỗi lầm mà mình không muốn thừa nhận ở nơi người khác. Những ví dụ minh họa tuyệt vời nhất cho luận điểm này có thể dễ dàng tìm thấy trong những cuộc cãi lộn. Trừ khi ta có khả năng tự ý thức cao độ, ta sẽ không bao giờ nhìn thấu được [lớp màn] phóng chiếu, mà ta sẽ thường xuyên rơi vào cái bẫy của nó, bởi trong tình trạng tự nhiên của tâm trí, nó mặc định sự tồn tại của cơ chế phóng chiếu. Nói cách khác, những nội dung vô thức được phóng chiếu là lẽ tự nhiên và tất nhiên. ["General Aspects of Dream Psychology," ibid., par. 507.]"

Chữ “phóng chiếu” ở đây hàm ý một nội dung chủ quan được đưa sang (expulsion|trừu xuất, kéo ra) một khách thể (object | đối tượng bên ngoài); nó trái ngược với cơ chế nội chiếu (introjection | nội phóng). Vì vậy, nó là một tiến trình dị hóa (dissimilation), qua đó một nội dung chủ quan trở nên xa lạ với chủ thể và được hiện thân ở nơi khách thể. Chủ thể loại bỏ những nội dung không thích hợp, đau thương bằng cách phóng chiếu chúng [sang người khác]. [Definitions," CW 6, par. 783.]

Phóng chiếu không phải là một tiến trình có ý thức. Người ta tình cờ gặp gỡ, hội ngộ với phóng chiếu, chứ không tạo ra chúng.

Lý do về mặt tâm lý nói chung của sự phóng chiếu luôn là một nội dung vô thức được kích hoạt tìm cách bộc lộ ra bên ngoài.

Người ta cũng có thể phóng chiếu những nét tính cách nhất định lên người khác trong khi người này thực ra lại không hề sở hữu những nét tính cách đó. Nhưng rất có thể người bị phóng chiếu lại vô tình khuyến khích cơ chế này.

Một tình huống hay xảy ra là khách thể cũng thường có những điểm tương đồng với nội dung được phóng chiếu vào mình, và thậm chí họ còn có xu hướng khêu gợi cơ chế này. Nói chung điều này đặc biệt đúng khi chính bản thân khách thể (anh/cô ta) không ý thức được phẩm chất đang bị phóng chiếu vào mình: do đó nó tác động trực tiếp vào vô thức của người bị phóng chiếu. Bởi mọi sự phóng chiếu đều khiêu khích sự phóng chiếu ngược lại khi khách thể hoàn toàn không ý thức gì về phẩm chất được chủ thể phóng chiếu lên mình. 

Thông qua cơ chế phóng chiếu, người ta tạo ra một loạt những mối quan hệ tưởng tượng mà thường là ít liên quan hoặc không liên quan gì đế thế giới thực.

Hệ quả của tiến trình phóng chiếu là chủ thể bị cô lập khỏi môi trường xung quanh họ, bởi thay vì có một mối quan hệ chân thực với nó, giờ đây người ta chỉ có một mối quan hệ hư ảo, hão huyền với nó. 

Phóng chiếu “phù phép” thế giới xung quanh thành một bản sao của khuôn mặt/khía cạnh khác của ta, mà ta lại chưa từng biết tới. Do đó, khi phân tích đến cùng, chúng sẽ dẫn tới tình trạng thủ dâm "tư tưởng" (autoerotic) hay chìm đắm (autism | tự kỷ) trong thế giới của riêng mình. Khi đó ta luôn mơ mộng viển vông về một thế giới mà ta sẽ mãi mãi không bao giờ có thể chạm tới được.

Phóng chiếu cũng có những hệ quá tích cực. Trong đời sống hằng ngày, nó hỗ trợ cho những mối quan hệ giữa người với người. Hơn nữa, khi ta cho rằng phẩm chất hay tính cách nào đó hiện diện ở nơi người khác, rồi sau đó, lại nhận ra không phải như vậy, thì ta có thể hiểu hơn về chính mình. Điều này dẫn tới sự thu hồi hay sự giải trừ phóng chiếu.

Chừng nào năng lượng tâm lý (libido) còn có thể sử dụng cơ chế phóng chiếu này như là những cây cầu thuận tiện và thích hợp để đi tới thế giới bên ngoài, chúng sẽ xoa dịu cuộc sống theo cách tích cực. Nhưng ngay khi năng lượng tâm lý muốn chuyển sang một đường hướng khác, và vì mục đích này nó bắt đầu chạy ngược lại cây cầu phóng chiếu trước kia, chúng sẽ đóng vai trò như những trở ngại lớn lao nhất mà ta có thể tưởng tượng được, bởi chúng ngăn chặn cực kỳ hiệu quả bất cứ sự tách rời thực sự nào khỏi khách thể trước đó [được phóng chiếu vào].

Nói chung thì, dấu hiệu của nhu cầu thu hồi tiến trình phóng chiếu là khi trong những mối quan hệ, những mong đợi gây cho người ta cảm giác bực bội, cùng với những xúc cảm mạnh mẽ. Nhưng Jung tin rằng chỉ đến khi nào sự bất đồng rõ rệt giữa những gì chúng ta tưởng là thực và chính bản thân thực tại, được phơi bày ra trước mặt, còn không thì người ta sẽ không có nhu cầu để ý tới cơ chế phóng chiếu, cũng chẳng thèm đoái hoài gì đến việc thu hồi chúng về.
 
Người ta chỉ để ý tới cơ chế phóng chiêu khi họ nảy sinh nhu cầu đồng hoá căn tính với khách thể. Nhu cầu này nảy sinh khi căn tính trở thành một yếu tố gây khó chịu. Tức là sự vắng mặt của nội dung được phóng chiếu cản trở sự thích ứng và người ta mong muốn thu hồi lại những gì vốn thuộc về mình.
 
Jung phân biệt giữa phóng chiếu chủ động và phóng chiếu thụ động. Phóng chiếu thụ động thì hoàn toàn tự động và không chủ ý, giống như khi người ta yêu nhau vậy. Ta càng biết về người kia ít bao nhiêu, thì ta càng dễ dàng phóng chiếu thụ động những phương diện vô thức của mình vào họ.
 
Phóng chiếu chủ động còn được người ta biết tới dưới tên gọi “đồng cảm" (empathy) - ta đặt mình vào vị trí của người khác. Đồng cảm có thể mở rộng đến mức ta rời bỏ vai trò khách thể của mình, để đồng hoá với người khác.

Thông thường thì cái bóng âm của một cá nhân hay được phóng chiếu vào người có cùng giới tính với họ. Trên phương diện cộng đồng, nó là thủ phạm gây ra chiến tranh, thói tìm nạn nhân để đổ tội (scapegoating), xung đột giữa các đảng phái chính trị. Trong ngữ cảnh của mối quan hệ trị liệu, phóng chiếu được gọi là chuyển dịch (transference) hay chuyển dịch ngược (countertransference), phụ thuộc vào việc người được phân tâm hay nhà phân tâm đang phóng chiếu.

Đối với mặc cảm dị giới như ẩn nữ (anima) hay ẩn nam (animus), cơ chế phóng chiếu vừa là nguyên do thông thường của oán thù, vừa là nguyên do đơn nhất của sức sống.
 
Khi ẩn nam và ẩn nữ gặp gỡ nhau, ẩn nam thu lại thanh gươm đầy sức mạnh và ẩn nữ tung ra lọ thuốc độc gây ảo tưởng và quyến rũ. Không phải lúc nào kết quả cũng là tiêu cực, bởi cả hai người đều đang yêu đương say đắm như nhau.
 
Nguồn: David Sharp, Jung Lexicon
Đỗ Hoàng Tùng dịch

Tuesday, June 27, 2017

Quá trình trị liệu tâm lý diễn ra như thế nào?





Nhiều độc giả có thể đang trong quá trình trị liệu tâm lý hoặc có thể quen biết người nào đó đã hoặc đang tìm đến tâm lý trị liệu.

Mặc dù có nhiều phương pháp khác nhau mà các nhà trị liệu có thể áp dụng đối với bạn, nhưng chúng đều có cùng một số điểm chung. Và hầu hết các nhà trị liệu đều chữa lành cho thân chủ theo cùng một cách.

Trước tiên, đa phần các phương pháp tâm lý trị liệu đều giúp thân chủ thấu hiểu bản thân (insight) họ rõ hơn.

Nhà trị liệu dẫn dắt thân chủ quan sát những gì đang diễn ra trong nội tâm họ, cũng như những thói quen trong tư duy và hành động của chính họ. Tác dụng của kỹ thuật này là, từ việc nhìn thấu và hiểu rõ tâm tư bản thân mà thân chủ dần thoát khỏi sự ràng buộc của cảm xúc, thói quen/khuynh hướng tư duy, nhờ đó có thể điều khiển tâm trạng tốt hơn.

Phương pháp này đem đến sự thông cảm và thấu hiểu, giúp cho thân chủ cảm thấy bớt bị kiểm soát bởi những cảm nhận và lề lối suy nghĩ , thay vào đó thân chủ có thể làm chủ bản thân họ tốt hơn.

Xác định và gọi tên được vấn đề đang tồn tại có thể giúp ta phần nào kiểm soát được nó. Một vài phương pháp hướng đến thấu hiểu bản thân bao gồm tìm hiểu quá khứ, trong khi những phương pháp khác, đặc biệt là những phương pháp bị ảnh hưởng bởi thực hành chánh niệm, hoặc những phương pháp đề ra cái được gọi là sự định hướng nhận thức – hành vi thì lại tập trung vào sự hiểu biết thực tại đang xảy ra trong tâm trí (bây giờ và ở đây) và cả những điều thân chủ cảm nhận được trong căn phòng cùng nhà trị liệu.

Phương pháp thứ hai mà các nhà tâm lý trị liệu thường áp dụng là tạo ra những trải nghiệm mới cho thân chủ hay khuyến khích họ tự tạo ra chúng cho chình mình.

Điều tôi muốn nói ở đây chính là dù nhà trị liệu có chủ đích thực hiện kỹ thuật này hay không, thì một quá trình trị liệu tốt sẽ khiến cho kỹ thuật đó đủ an toàn để thân chủ có thể thử nghiệm và trải nghiệm sự liên hệ giữa anh ấy hay cô ấy với thế giới này theo một cách mới mẻ và lành mạnh hơn.

Thông thường, sự liên hệ đầu tiên diễn ra là trong mối quan hệ của thân chủ với nhà trị liệu tâm lý.

Theo thời gian, nhà trị liệu sẽ vừa hỗ trợ thân chủ thử nghiệm với những cách ứng xử mới trong toàn bộ các mối quan hệ của họ, vừa đưa ra sự giúp đỡ và bằng chứng để chứng minh rằng những cách tiếp cận lành mạnh hơn đối với cuộc sống là hoàn toàn có thể.

Niềm hy vọng rằng sự đồng hành sẽ thay đổi thành công hành vi ứng xử là rất quan trọng đối với nhiều thân chủ - những người tìm đến trị liệu với tinh thần bi quan và không thể nói được ra, rằng tất cả mọi việc xảy ra trên đời là cần phải thế, và chúng bắt buộc phải thế.

Những trải nghiệm tốt đẹp hơn sẽ là một cách phản đối mạnh mẽ đối với .quan điểm sống bi quan này.

Lấy ví dụ, một bệnh nhân nữ của tôi rất sợ đề nghị ông chủ của cô tăng lương, mặc dù là cô ấy xứng đáng được như vậy.

Tôi đã giúp cô thấu hiểu thứ niềm tin mà cô bí mật che giấu - và, do những trải nghiệm trong quá khứ đã khiến cô luôn luôn che giấu - rằng cô không cần thể hiện bản thân/”tỏa sáng" ở nơi công sở, tham vọng là xấu, và cô không nên tiến cử bản thân cũng như năng lực của mình. Trở nên nhận thức rõ ràng thứ niềm tin sai lầm cùng những hình thái biểu hiện của chúng khiến cô ấy như bừng tỉnh và hiểu ra sự tự ti của mình thật vô lý, chúng đã cản trở cô trước bao nhiêu cơ hội.

Khi cô ấy cảm thấy an toàn hơn và tin tưởng tôi nhiều hơn, trong buổi trị liệu của chúng tôi, cô bắt đầu thử nghiệm cảm giác tự hào đối với những thành tựu của mình và dần dần tập thái độ tự khẳng định bản thân trong những ”đấu trường” xã hội khác. Cuối cùng, cô đã có dũng khí để đứng trước mặt ông chủ, dùng lý lẽ chính đáng lên tiếng đòi hỏi một sự thăng tiến.

Đây chính là cách tâm lý trị liệu vận hành. Những nhà tâm lý trị liệu khác có thể đưa ra những phương án trị liệu khác nhau cho trường hợp của thân chủđó, nhưng để thành công, hầu hết sẽ cần kết hợp một vài kỹ thuật giúp nhìn thấu tâm trí, cùng nhiều kiểu thực tập thay đổi hành vi, bên trong hoặc bên ngoài quá trình trị liệu.

Thấu hiểu bản thân cùng sự trải nghiệm những cách ứng xử mới lành mạnh hơn là chìa khóa cho việc thay đổi tâm lý và được thấy trong hầu hết các trường phái tâm lý trị liệu.

Nếu bạn đang trong quá trình trị liệu tâm lý, hãy hỏi nhà trị liệu về điều này.

Nếu bạn không đang trong trị liệu, nhưng bạn muốn và cần được trị liệu, hãy hỏi nhà trị liệu tương lai rằng anh/cô ta có quan điểm thế nào về hai khái niệm nền tảng này không.


Michael Bader DMH, là một nhà tâm lý thực hành độc lập tại Grass Valey, California, Mỹ.

Nguồn: Michael Bader: How does psychotherapy work?
Hoàng Thanh Vân dịch
Nguyễn Hải Linh hiệu đính

Monday, January 9, 2017

Vì sao ta mặc cảm tự ti* và làm thế nào để vượt qua nó


Bạn đã bao giờ cố gắng tự vượt qua cảm giác mặc cảm, tự ti của mình? Khám phá xem liệu cảm giác này và mong muốn kiểm soát mọi thứ xung quanh gắn kết với nhau như thế nào, từ đó, bạn sẽ hiểu rằng khi bạn từ bỏ mong muốn điều khiển mọi thứ xung quanh mình, cảm giác mặc cảm, tự ti cũng sẽ biến mất theo. 

Nhiều người trên hành trình hàn gắn bản thân cảm thấy cực kỳ khó thoát khỏi cảm giác mặc cảm, tự ti. Nhưng khi bạn hiểu ra mục đích tồn tại của cảm giác này, bạn có thể vượt qua được nó. 

Mặc cảm, tự ti là cảm giác bạn cảm thấy có gì đó bất ổn về bản thân mình. Cảm giác tội lỗi là khi bạn làm điều gì đó sai trái, còn mặc cảm, xấu hổ, tự ti là khi bạn cảm thấy có điều gì đó sai trái về chính bản chất của mình. Cảm giác tự ti đến từ suy nghĩ rằng: “Về cơ bản là tôi không hoàn hảo, tôi thiếu sót, tôi sai trái, tôi tồi tệ, tôi xấu xa, tôi không quan trọng, tôi không xứng đáng và nói chung là không đủ tốt.” 

Tại thời điểm nào đó trong cuộc đời mình, khi còn nhỏ, phần lớn chúng ta bị tiêm nhiễm cái niềm tin sai lầm này và chính nó là nguyên nhân của sự tự ti. Đấy là kết quả của việc không được nhìn nhận, thấu hiểu, quan tâm, yêu thương đúng mức. Chúng ta tự xây dựng một niềm tin rằng chúng ta không được yêu quý vì có cái gì sai trái, không ổn ở trong chính bản thân chúng ta. Một số đứa trẻ thì bị nói thẳng vào mặt rằng chúng chẳng ra sao cả – chúng là những đứa trẻ hư hỏng, ngu ngốc và không xứng đáng – những đứa khác tự kết luận rằng mình không ổn vì cách mà người ta đối xử với chúng. 

Khi chúng ta tự thiết lập được một niềm tin về sự kém cỏi của bản thân, chúng ta trở nên nghiện sự tự ti đó vì chúng có ích chúng ta ở hai phương diện:

1. Nó cho chúng ta một cảm giác kiểm soát được cảm xúc và hành vi của người khác 

Chừng nào chúng ta vẫn tin rằng nguyên nhân người ta từ chối mình là ở bản thân mình, thì chừng đó chúng ta sẽ vẫn tin rằng mình còn có thể làm được điều gì đó. Nó cho chúng ta một cảm giác chủ động, rằng họ từ chối chúng ta, không yêu thương chúng ta là bởi chính ta. Và vì chính ta nên ta có thể thay đổi được điều đó bằng cách làm mọi việc theo cách “đúng đắn”. Chúng ta cứ bám víu vào niềm tin rằng họ cư xử như vậy là do lỗi của mình vì chúng ta không muốn chấp nhận rằng họ có quyền cư xử hay cảm thấy theo cách họ muốn (chứ thực ra chả liên quan gì đến chúng ta cả), chúng ta không muốn chấp nhận sự bất lực của mình trước người khác. 

2. Nó che đậy những cảm xúc sâu kín mà ta không muốn đối diện, cho ta cảm giác ta có thể kiểm soát được cảm xúc của mình. 

Mặc dù cảm giác mặc cảm, tự ti có thể tồi tệ, nhiều người vẫn cảm thấy nó dễ chịu hơn là những cảm xúc mà nó đã lấn át: cô đơn, buồn tủi, đau đớn, sầu thảm hay bất lực trước những người khác. Cũng như cơn giận dữ thật ra chỉ là vỏ bọc che giấu những cảm xúc khó chịu khác, sự mặc cảm, tự ti cũng vậy. Nó hoàn toàn khác với cảm giác cô đơn, buồn tủi hay bất lực trước người khác. 

Mặc cảm, tự ti là cảm giác bắt nguồn từ chính niềm tin của chúng ta, nhưng cô đơn, buồn tủi, đau thương hay sầu thảm hoặc bất lực thì là những cảm xúc tất yếu ai cũng phải trải qua (existential feelings) - những cảm xúc vốn là hệ quả tự nhiên của cuộc đời. Chúng ta cảm thấy buồn tủi và đau đớn khi chúng ta mất một ai đó chúng ta yêu quý. Chúng ta thấy cô đơn khi chúng ta muốn nói chuyện, chơi đùa cùng ai đó, nhưng chẳng có ai bên cạnh hay chẳng có ai đủ cởi mở để có thể nói chuyện, yêu thương, hay chơi đùa được. Nhiều người thà sống những cảm xúc tiêu cực họ tự tạo ra cho mình còn hơn là cảm nhận những cảm xúc đau đớn chân thật của cuộc đời. 

Nếu bạn cảm thấy khó có thể vượt qua được sự mặc cảm, tự ti của bản thân mình, điều đó có thể có nghĩa là bạn đang nghiện cảm giác kiểm soát mà niềm tin xuất phát từ sự măc cảm, tự ti mang lại: Sự kiểm soát đối với cảm xúc và cư xử của người khác và sự kiểm soát đối với cảm xúc sâu kín, chân thật của chính mình. Chừng nào bạn vẫn còn muốn kiểm soát, tâm trí bạn sẽ không thoát khỏi niềm tin sai lệch này. 

Bạn có thể tự vượt qua sự mặc cảm, xấu hổ, tự ti của bản thân mình bằng cách: 

1. Bạn sẵn sàng chấp nhận sự thật rằng cảm xúc của người khác thì chẳng liên quan gì đến bạn cả. 

Khi bạn chấp nhận rằng người khác có quyền tự do trong cảm xúc của họ, cởi mở hoặc không, yêu thương hay chán ghét – rằng bạn không phải là nguyên nhân cho việc đó, và bạn không còn coi rằng tất cả cảm xúc, hay hành vi của họ đều là hướng đến mình – thì bạn sẽ không còn có nhu cầu phải kiểm soát chúng nữa. Khi bạn từ bỏ nhu cầu kiểm soát đối với người khác và thay vào đó cảm thông, từ ái đối với bản thân và người khác, bạn sẽ buông bỏ được niềm tin rằng mình là nguyên nhân cho mọi sự tồi tệ. 

2. Bạn sẵn sàng chấp nhận những cảm xúc sâu kín, chân thật bên trong bản thân mình, thay vì che dấu nó bằng mặc cảm, xấu hổ, tự ti hay tức giận. Khi bạn học được cách nuôi dưỡng bản thân bằng việc chiêm nghiệm thực tại và bằng sự quan tâm và nhân ái đối với chính những cảm xúc tự nhiên của mình, bạn sẽ không còn cảm thấy cần sự bảo vệ khỏi chúng bằng sự xấu hổ hay đổ lỗi nữa. 

Nhu cầu kiểm soát và mặc cảm tự ti gắn bó với nhau rất lắt léo, phức tạp. Khi bạn từ bỏ nhu cầu kiểm soát, thay vào đó bạn học cách cảm thông và từ ái với bản thân cũng như với người khác, bạn sẽ thấy mặc cảm tự ti của mình biến mất. 

Margaret Paul Ph.D, Why We Shame and How to Conquer It
Ngô Bá Anh dịch

(*) Shame, trong tiếng anh, từ này mang nhiều ý nghĩa: xấu hổ, mặc cảm, tự ti, bẽ bàng, tủi hổ, tiếc nuối... Trong phạm phi bài viết và để đơn giản hóa, người dịch xin phép dịch ngắn gọn là mặc cảm, tự ti.

Monday, October 17, 2016

Khái niệm Ẩn nữ (Anima) của Carl Jung


Ẩn nữ (Anima). Phương diện nữ tính ẩn tàng trong tâm thức nam giới. (Xem thêm các mục từ animus, Eros, Logos, và soul-image.) 

Nhân cách nữ tính vừa là một mặc cảm cá nhân (personal complex), vừa là một hình ảnh bắt nguồn từ mẫu tượng (archetypal image) trong tâm thức nam giới. Nó là cấu phần vô thức một lần nữa thể nhập vào mọi bé trai, và cũng chính nó phải đứng ra chịu trách nhiệm cho cơ chế phóng chiếu. Ban đầu, ẩn nữ được đồng hóa với người mẹ ruột, sau này nam giới không chỉ trải nghiệm nó ở phụ nữ nói chung, mà còn cảm nghiệm nó như một sự ảnh hưởng bao trùm toàn thể đời sống.

Ẩn nữ là mẫu tượng (archetype) của chính sự sống.

Trong tâm thức nam giới luôn có một hình tượng (imago) không chỉ của người mẹ mà còn của con gái, chị gái, người tình trong mộng, nữ thiên thần, bà lão Baubo nơi âm giới. Người mẹ hay người tình nào cũng đều bị buộc phải trở thành người đảm nhiệm và hiện thân cho hình ảnh trùm khắp và vĩnh cửu này, vốn không khác gì cái thực tại sâu xa nhất trong tâm hồn nam giới. Cái hình tượng phụ nữ ẩn chứa đầy hiểm họa này thuộc về anh ta chứ không phải ai khác; nàng đại diện cho lòng chung thủy mà vì cuộc sống, đôi khi anh ta phải từ bỏ; nàng là sự bù đắp tối cần thiết cho tất cả sự mạo hiểm, chiến đấu, hy sinh mà cuối cùng đều kết thúc trong nỗi thất vọng khôn nguôi; nàng là niềm an ủi cho mọi cay đắng của cuộc đời. Và đồng thời, nàng là kẻ huyễn hoặc, quyến rũ vô cùng, lôi kéo anh ta đi vào vòng ảo mộng - không chỉ đi vào những phương diện hữu lý và hữu hiệu của đời sống, mà còn cả những cảnh nghịch lý và lưỡng nan đầy đáng sợ, nơi mà thiện ác, thành bại, hy vọng và tuyệt vọng, từng cặp đối nghịch lẫn nhau. Bởi nàng là mối nguy hiểm lớn nhất của anh ta, nàng đòi hỏi ở anh ta sự nỗ lực lớn lao nhất, và nếu anh ta có phẩm chất anh hùng trong mình, thì nàng sẽ công nhận nó. 

Trong các giấc mơ, qua hình tượng người nữ, phương diện nữ tính ẩn tàng trong nam giới được nhân cách hoá thành: từ cô gái xinh đẹp đầy quyến rũ tới bậc đạo sư tâm linh. Nó có mối quan hệ với cội nguồn dục tính, do đó, sự trưởng thành của nhân cách nữ tính nơi nam giới được phản ánh trong mối quan hệ của anh ta với nữ giới. Trong tâm thức nam nữ, ẩn nữ đóng vai trò như tâm hồn của anh ta, ảnh hưởng tới toàn bộ tư tưởng, thái độ và tình cảm.

Ẩn nữ, hay nhân cách nữ tính ẩn tàng ở đây không phải là tâm hồn (soul) theo ý nghĩa giáo điều, không phải là tâm hồn lý tính (anima rationalis), vốn là một khái niệm triết học, mà là một mẫu tượng tự hình thành. Nó được tổng hòa từ tất cả những biểu lộ của vô thức, của trí khôn nguyên thủy, của sự phát triển của ngôn ngữ và tôn giáo theo dòng lịch sử,… Nó luôn là yếu tố tiên nghiệm (a priori) trong tâm trạng, thái độ phản ứng, xung năng và bất cứ thứ gì ngẫu nhiên bộc phát trong đời sống tâm lý nam giới. 

Ẩn nữ phóng đại, bóp méo và huyền thoại hóa, gây căng thẳng cho tất cả các mối quan hệ cảm xúc của nam giới với công việc cũng như với tha nhân ở cả hai giới. Những huyễn tưởng và mắc mớ từ đó nảy sinh đều do một tay nó tạo nên cả. Khi nhân cách nữ tính này được kết tập một cách mạnh mẽ, nó sẽ làm cho tính cách người đàn ông trở nên mềm yếu, dễ tự ái, dễ cáu kỉnh, thất thường, ghen tuông, hão huyền, và thiếu khả năng thích nghi.

Với vai trò là nhân cách ẩn tàng, ẩn nữ (anima) bổ sung cho cái mặt giả (persona) và giữ mối quan hệ cân bằng với nó. 

Cái mặt giả, hình ảnh lý tưởng mà nam giới nghĩ là mình nên có, được bù trừ bằng sự yếu đuối của nữ giới trong nội tâm. Và khi ở bên ngoài người ta tỏ ra là một đấng đại trượng phu đầy mạnh mẽ bao nhiêu, thì sâu thẳm bên trong tâm hồn, anh ta là một nàng tiểu thư yểu điệu bấy nhiêu, bởi nhân cách nữ tính luôn đối nghịch với cái mặt giả. Nhưng bởi vì thế giới nội tâm tối tăm vô hình... và bởi vì khả năng nhận ra được sự yếu đuối của mình càng ít bao nhiêu, thì anh ta lại càng đồng hóa với cái mặt giả nhiều bấy nhiêu. Còn phần đối nghịch với nó, tức cái nhân cách nữ tính chìm vào trong bóng tối (vô thức) và đồng thời, được phóng chiếu (sang người vợ), vậy nên các vị anh hùng mới hay bị các bà vợ thao túng, điều khiển. 

Do đó đặc điểm của ẩn nữ có thể được suy ra từ đặc điểm của cái mặt giả; tất cả những nét tính cách thiếu vắng nơi thái độ biểu lộ ra bên ngoài sẽ được tìm thấy nơi nội tâm.

Tay bạo chúa bị hành hạ bởi những giấc mơ tồi tệ, những điềm gở, và những nỗi sợ hãi thầm kín là một dạng người rất điển hình. Tuy bề ngoài hắn tỏ ra tàn nhẫn, cay nghiệt, khó gần, nhưng thật ra bên trong, hắn ta thường giật mình sợ hãi trước mỗi góc khuất, dễ rơi vào đủ mọi loại tâm trạng, như thể hắn ta là người yếu ớt và nhạy cảm nhất trên đời. Do đó, nhân cách nữ tính của hắn ta ẩn chứa tất cả những tính cách của con người lầm lỗi mà cái mặt giả của hắn ta thiếu vắng. Nếu cái mặt giả bên ngoài tỏ ra lý tính, thì chắc chắn sẽ cảm tính.

Tương tự như vậy, ở phương diện nào nam giới đồng hóa với cái mặt giả, thì ở nơi đó trên thực tế, anh ta đã bị ẩn nữ điều khiển, thao túng, với những triệu chứng tương ứng.

Sự đồng hóa với cái mặt giả tất yếu dẫn tới sự đồng hóa với ẩn nữ, bởi vì khi cái tôi không tách ra khỏi cái mặt giả, thì nó không thể nào có một mối quan hệ ý thức với toàn bộ tiến trình vô thức (tức là nhận ra những xung năng vô thức đang chi phối mình). Hệ quả là, cái tôi biến thành chính những tiến trình này, nó đồng hoá với chúng. Bất cứ ai tự đồng hoá mình với “vai diễn” ngoài đời chắc chắn sẽ rơi vào những tiến trình tâm lý (mà anh ta không ý thức được - ND); hoặc anh ta sẽ vừa bất mãn với vai diễn ngoài đời bởi sự đòi hỏi tuyệt đối của nội tâm, hoặc cũng có thể anh ta sẽ biến nó thành một sự ngớ ngẩn qua tiến trình chuyển đổi thái cực (enantiodromia). Có thể anh ta sẽ không còn đi theo con đường của riêng mình nữa, cuộc đời anh đi vào hết ngõ cụt này đến ngõ cụt khác. Hơn nữa, ẩn nữ chắc chắn sẽ phóng chiếu lên một đối tượng ngoài đời, người mà anh ta có mối quan hệ hoàn toàn phụ thuộc.

Jung vạch ra bốn giai đoạn phát triển chính của ẩn nữ, tương tự các cấp bậc trong giáo phái thờ thần Eros cuối thời cổ đại. Ông nhân cách hoá các giai đoạn này thành Eva, Helen, đức mẹ Mary và Sophia. 

Ở giai đoạn đầu tiên, với tư cách là Eva, ẩn nữ chưa được tách biệt khỏi người mẹ ruột. Nam giới không thể trở thành con người lành mạnh mà không có mối quan hệ gắn bó khăng khít với một người phụ nữ. Trong giai đoạn thứ hai, được nhân cách hoá thành nhân vật lịch sử Helen thành Troy, ẩn nữ trở thành biểu tượng tình dục lý tưởng của đại chúng (Tất cả những thứ bỏ đi đều không phải là Helen. - Marlowe). Giai đoạn ba, đức mẹ Mary thị hiện trong những cảm xúc tôn giáo và xuất hiện khả năng cho những mối quan hệ lâu dài. Giai đoạn bốn, với tư cách Sophia (được gọi là Minh triết trong Kinh thánh), nhân cách nữ tính làm nhiệm vụ người dẫn dắt đi vào thế giới nội tâm, đưa những nội dung từ tầng vô thức lên tầng ý thức. Nàng hỗ trợ nam giới trên hành trình đi tìm ý nghĩa cuộc sống và là nàng thơ tạo cảm hứng sáng tạo cho nghệ sỹ.

Lý tưởng mà nói, thì ẩn nữ tiến triển tự nhiên thông qua những giai đoạn kể trên khi người ta lớn tuổi dần lên. Trong thực tế, với tư cách là nguồn sinh lực phát xuất từ mẫu tượng (archetypal life force), nhân cách nữ tính biểu lộ trong bất cứ hình hài nào cần phải có để bù trừ cho thái độ chiếm ưu thế trên bề mặt ý thức. 

Chừng nào ẩn nữ còn nằm trong vô thức, thì chừng đó mọi thứ mà nàng đại diện đều bị phóng chiếu ra bên ngoài. Thông thường nhất là, bởi sự gắn bó khăng khít ban đầu giữa ẩn nữ và hình tượng người mẹ che chở, sự phóng chiếu sẽ rơi vào người bạn đời, với những hệ quả mà ta có thể dự đoán được.

Ý niệm về hôn nhân của đàn ông quá định kiến đến mức mà người vợ buộc phải đảm nhiệm vai trò huyền nhiệm của người mẹ. Dưới vỏ bọc của cuộc hôn nhân lý tưởng, anh ta đang thực sự tìm kiếm sự che chở của người mẹ, và do đó anh ta rơi vào vòng tay của bản năng chiếm hữu nơi người vợ. Nỗi sợ sức mạnh không thể nào đo đếm của vô thức tăm tối nơi anh ta trao cho người vợ một thứ uy quyền không chính đáng với mình, và khuôn đúc thành một mối quan hệ gần gũi đầy nguy hiểm mà trong đó, cuộc hôn nhân luôn ở trên bờ vực của sự bùng nổ xung đột bắt nguồn từ sự căng thẳng âm ỉ bên trong.

Dù nam giới có trưởng thành đến đâu, anh ta vẫn luôn có khả năng nhìn thấy những phương diện của nhân cách nữ tính trong mình, tâm hồn anh ta, ở một phụ nữ ngoài đời. Điều này cũng đúng với nhân cách nam tính trong tâm thức nữ giới (animus). Những phương diện này có thể được hội nhập vào trong ý thức và ý nghĩa của chúng có thể được chủ thể thấu hiểu, nhưng bản chất cốt lõi của chúng thì không thể nào vơi cạn. 

Dù những ảnh hưởng của nhân cách nữ tính và nam tính có thể được hội nhập vào ý thức, nhưng chính bản thân chúng (tức anima và animus) là những yếu tố siêu việt ý thức cũng như vượt ra ngoài tầm với của tri giác và ý chí con người. Do đó, chúng vẫn luôn là những thực thể tự chủ cho dù những nội dung của chúng có được hội nhập vào ý thức, và vì lý do này, chúng luôn cần được ghi nhớ.

Đối với nam giới, ưu tiên trong nửa đầu cuộc đời là giải thoát mình khỏi sự lôi cuốn của ẩn nữ nơi người mẹ. Trong nửa sau cuộc đời, việc thiếu vắng mối quan hệ ý thức với nhân cách nữ tính bên luôn đi kèm với những triệu chứng đặc trưng của căn bệnh “đánh mất tâm hồn.”

Những người trẻ tuổi có thể chịu đựng được sự thiếu vắng toàn diện nhân cách nữ tính mà không hề gì. Ở giai đoạn này, đối với nam giới điều quan trọng là trở thành một người đàn ông đích thực… Tuy nhiên, qua tuổi trung niên, sự thiếu vắng lâu dài của nhân cách nữ tính trong đời sống tinh thần đồng nghĩa với việc người ta sẽ mất đi sức sống, sự linh hoạt, và lòng nhân ái. Kết quả là, theo lệ thường, người ta sẽ nhanh chóng đi đến chỗ cứng nhắc, cáu bẳn, rập khuôn, cực đoan, ngang ngạnh, tiểu tiết, hay cũng có thể là cam chịu, chán chường, ủy mị, vô trách nhiệm, và cuối cùng là tính hay dằn dỗi kiểu trẻ con với khuynh hướng nghiện bia rượu.



Đối với nam giới, có một cách để làm quen với bản chất của ẩn nữ trong anh ta. Đó là thông qua phương pháp chủ động tưởng tượng. Tức là, anh ta nhân cách hóa nàng thành một nhân cách tự chủ, rồi hãy thăm hỏi và lắng nghe hồi đáp từ nàng. Ý tôi là bạn hãy coi đây là một kỹ thuật thật sự… Nghệ thuật này chỉ đòi hỏi bạn để cho người bạn vô hình này được lên tiếng, nhanh chóng đưa ra cơ chế biểu đạt theo ý nàng, mà không bị mất kiểm soát bởi sự khó chịu mà đương nhiên người ta sẽ cảm thấy khi ở trong một trò chơi rõ ràng là kỳ khôi với chính bản thân mình, hay bởi sự nghi ngờ về tính xác thực của giọng nói của người đối thoại.

Jung nhận định rằng nếu cuộc trùng phùng với bóng âm (shadow) là “công trình đầu tay” (apprentice-piece: công trình của kẻ tập sự) trong quá trình trưởng thành của nam giới, thì tiến tới hữu hảo với ẩn nữ là “công trình tuyệt tác” (master-piece: công trình của bậc thầy). 

Mục tiêu là sự chuyển hóa của ẩn nữ, từ một kẻ đối nghịch khó chịu thành người trung gian, liên hệ giữa ý thức và vô thức. Jung gọi đó là “sự chinh phục ẩn nữ với tư cách một mặc cảm tự chủ.” Một khi đã đạt được mục tiêu này, người ta có thể tách cái tôi khỏi đủ mọi lại rây mơ rẫy má với tập thể và vô thức tập thể. Trải qua quá trình này, ẩn nữ không còn năng lực ma quái của một mặc cảm tự chủ; nàng không còn “thi triển” được năng lực kiểm soát, bởi nàng đã bị bất hoạt hóa (depotentiated). Nàng không còn là người canh gác kho báu bí ẩn; không còn là con ma Kundry, sứ giả của Chén thánh, nửa thần thánh nửa súc sinh; không còn là cái tâm hồn vốn được là “người tình”, mà chỉ còn là một chức năng tâm lý của bản chất trực giác, cũng giống những gì người nguyên thủy ngụ ý khi họ nói, “Anh ta đi vào trong rừng để nói chuyện với thần linh” hay “Con rắn nói với tôi” hay, trong ngôn ngữ huyền thoại của trẻ thơ, “con chim non nói với con.”

Nguồn: David Sharp - Jung's Lexicon
Đỗ Hoàng Tùng dịch

Friday, October 30, 2015

Quan niệm về "giấc mơ" của Carl Jung


Giấc mơ (dreams). Biểu hiện độc lập, ngẫu nhiên của vô thức; mảnh vụn của hoạt động tâm lý không chủ tâm, vốn chỉ đủ ý thức để có thể tái hiện trong trạng thái thức.

Các giấc mơ không phải là những câu chuyện được thêu dệt một cách chủ tâm, chủ ý; chứng là những hiện tượng tự nhiên, không có gì khác ngoài những gì chúng biểu hiện ra. Chúng không lừa mị hay dối trá, chúng không bóp méo hay che giấu… Chúng luôn tìm cách bộc lộ điều gì đó mà cái tôi không biết và cũng không hiểu. 

Dưới hình thái biểu tượng, giấc mơ ghi lại hiện trạng tâm thức từ góc nhìn của vô thức.

Bởi ý nghĩa của hầu hết giấc mơ không đi theo những khuynh hướng của tâm trí ý thức mà lại bộc lộ ra nhiều đường hướng khác biệt của riêng chúng, chúng ta phải giả định rằng vô thức, cái nôi của những giấc mơ, có một chức năng độc lập. Đây là cái mà tôi gọi là sự tự chủ của vô thức. Các giấc mơ không chỉ bất tuân ý chí của ta mà còn đứng ở thế đối lập lại với những chủ định ý thức của ta. 

Jung thừa nhận rằng trong một số trường hợp các giấc mơ có chức năng ước muốn đạt được và bảo toàn giấc ngủ (theo quan điểm của Freud) và nỗ lực mang tính trẻ con nhằm có được quyền lực (theo quan điểm của Adler), nhưng ông nhấn mạnh vào nội dung biểu tượng và vài trò bù trừ của nó trong cơ chế tự điều chỉnh của tâm thức: chúng tỏ lộ những phương diện mà thông thường người ta không nhận thức được, chúng bộc lộ hững động cơ vô thức vận hành trong các mối quan hệ và đưa ra những quan điểm mới mẻ trong những tình huống xung đột.

Về điểm này, có ba khả năng có thể xảy ra. Nếu thái độ ý thức đối với các tình trạng đời sống phần lớn là cực đoan một chiều, thì giấc mơ sẽ ở chiều hướng ngược lại. Nếu ý thức có lập trường khá là gần với “trung đạo”, thì giấc mơ sẽ thoái mái theo những đường hướng khác biệt. Nếu thái độ ý thức là đúng đắn (thỏa đáng) thì giấc mớ sẽ trùng khớp với và nhấn mạnh vào khuynh hướng này, dù nó không còn sự tự chủ của riêng mình.

Dưới cái nhìn của Jung, mỗi giấc mơ là một vở kịch nơi nội tâm.

Về cơ bản thì toàn thể công trình giấc mơ là chủ quan, và giấc mơ là rạp hát mà trong đó người nằm mơ chính là sân khấu, người đóng vai, người nhắc vở, người sản xuất, người sáng tác, người xem và người phê bình. 

Khái niệm này tạo cơ hội cho sự ra đời của phương pháp giải mộng trên bình diện chủ quan, nơi mà mọi hình ảnh trong mơ đều được coi như là những cuộc trình diễn thông qua biểu tượng của các thành tố trong nhân cách người nằm mơ. Việc giải mộng trên bình diện khác quan thì lại chắp nối toàn bộ những hình ảnh trong mơ với những con người và tình huống nơi thế giới bên ngoài.

Nhiều giấc mơ có cấu trúc như một vở kịch kinh điển. Chúng có phần mở đầu (địa điểm, thời gian và các nhân vật), cho biết tình huống ban đầu của người nằm mơ. Trong giai đoạn hai, có một sự phát triển trong kịch bản (bắt đầu có diễn biến). Giai đoạn ba dẫn đến cực điểm hay cao trào (sự kiện quyết định xảy ra). Giai đoạn cuối cùng là thoái trào, kết quả hay giải pháp (nếu có) của diễn biến trong mơ.

Nguồn: David Sharp, Jung Lexicon
Đỗ Hoàng Tùng dịch

Tuesday, September 29, 2015

Khái niệm "chủ động tưởng tượng" của Carl Jung

Hai Frida - Frida Kahlo
Tác giả tự vẽ chân dung mình trước và sau khi bị chồng phản bội.



Chủ động tưởng tượng (active imagination). Một phương pháp chuyển hóa những nội dung vô thức (giấc mơ, huyễn tưởng,...) thông qua một vài hình thái bộc lộ, phơi bầy bản thân. (Xem thêm mục từ Chức năng siêu việt.)

Mục tiêu của phương pháp chủ động tưởng tượng là tạo cơ hội cho những phương diện khác nhau của nhân cách - vốn thường không được lắng nghe - được cất lên tiếng nói, qua đó thiết lập một đường dây truyền thông giữa ý thức và vô thức. Ngay cả khi sản phẩm cuối cùng - một bức vẽ, một bức tranh, một câu chuyện, một bức điêu khắc, một vũ điệu, một bản nhạc… - không được diễn giải ý nghĩa, thì vẫn có một cái gì đó - đóng góp vào quá trình chuyển hóa tầng ý thức - sẽ vẫn tiếp diễn giữa người sáng tạo và cái được tạo ra. 

Giai đoạn đầu tiên của phương pháp chủ động tưởng tượng cũng giống như nằm mơ khi đang mở mắt vậy (mơ tỉnh). Nó có thể diễn ra theo một cách tình cờ, tự nhiên hoặc người ta có thể chủ động tạo ra nó. 

Ở trường hợp tự mình chủ động, bạn lựa chọn lấy một giấc mơ, hay một vài ảnh tượng huyễn tưởng khác, và tập trung tư tưởng vào nó bằng cách giữ lấy hình ảnh ấy trong tâm và nhìn vào nó. Bạn cũng có thể tận dụng một tâm trạng không vui nào đó làm khởi điểm, và sau đó cố gắng để ý xem nó tạo ra loại ảnh tượng huyễn tưởng nào, hay ảnh tượng nào phản ánh tâm trạng buồn chán. Sau đó bạn có thể “ấn định” hình ảnh đó vào trong tâm bằng sức tập trung tư tưởng. Thường thì nó sẽ biến đổi, bởi việc chỉ riêng quán chiếu nó thôi cũng sẽ khơi dậy sức sống trong nó. Mọi sự biến chuyển luôn cần được cẩn trọng ghi nhận, bởi chúng phản ánh những tiến trình tâm lý trong tầng ngầm vô thức (unconscious background), biểu hiện ra dưới dạng ảnh tượng xuất phát từ chất liệu ký ức của tầng ý thức. Bằng cách này, ý thức và vô thức được nối kết, giống như thác nước nối liền đỉnh thác trên cao và chân thác dưới thấp.

Giai đoạn thứ hai, thay vì chỉ đơn thuần quan sát những ảnh tượng này, ta sẽ chủ động vào giao lưu với chúng, đưa ra đánh giá chân thực nhất về việc chúng có ý nghĩa như thế nào với ta, rồi đi đến cam kết bắt buộc về mặt trí năng và đạo đức để ứng xử theo những hiểu biết đã nhận ra. Đây là một sự chuyển dịch từ thái độ nhận thức, thẩm mỹ sang thái độ xem xét, phán đoán.

Dù ở một mức độ nào đó, người ta nhìn vào từ bên ngoài, nhưng công bằng mà nói, thì anh ta cũng là một nhân vật đang khóc cười trong vở kịch của tâm thức. Nhận thức này là điều cực kỳ cần thiết và đánh dấu một bước tiến quan trọng. Chừng nào người ta còn đơn thuần nhìn vào những ảnh tượng ấy thì chừng đó người ta còn giống như chàng hiệp sĩ Parsifal ngu ngơ, người đã quên không đưa ra câu hỏi hệ trọng nhất bởi anh ta không ý thức được chính sự tham gia của mình vào câu chuyện. (Ở đây Jung ám chỉ tới huyền thoại Chén thánh. Câu hỏi mà Parsifal đã bỏ lỡ là: Chén thánh phụng sự cho ai?) Nhưng nếu bạn nhận thức được sự tham dự của mình, thì bạn phải bước vào câu chuyện với chính con người thật của mình, giống như thể bạn là một trong những nhân vật huyễn tưởng đó, hay nói đúng hơn, như thể vở kịch đang diễn ra trước mắt bạn là thật.

Thái độ xem xét, đánh giá ở đây hàm ý sự chủ động can dự vào trong những tiến trình huyễn tưởng, vốn bổ khuyết cho trạng thái ý thức của cá nhân và đặc biệt là của tập thể. Mục tiêu hiển nhiên của sự can dự này là để tích hợp những gì vô thức tỏ lộ, chuyển hoá những nội dung bổ khuyết, và qua đó tạo ra ý nghĩa trọn vẹn, điều duy nhất giúp cho cuộc đời trở nên đáng sống, cho không chỉ vài người, nếu có thể.

Nguồn: David Sharp, Jung Lexicon
Đỗ Hoàng Tùng dịch

Tuesday, August 25, 2015

Khái niệm "mặc cảm" của Carl Jung



Mặc cảm* (Complex). Một tổ hợp những tư tưởng hay hình ảnh nhuốm màu cảm xúc. (Xem thêm mục từ Thí nghiệm liên tưởng từ vựng.)

Mặc cảm là hình ảnh của một tình huống tâm lý mang nặng cảm xúc và hơn nữa, nó hoàn toàn không tương hợp với thái độ quen thuộc của dòng ý thức.

Vương đạo (via regia) để đi vào vô thức, không phải là giấc mơ như Freud vẫn tưởng, mà lại là mặc cảm. Chính mặc cảm là vị kiến trúc sư tạo nên những giấc mơ và những chứng bệnh tâm lý. Con đường đó cũng chẳng hề vương giả, bởi con đường mà mặc cảm tỏ lộ ra cho ta là con đường đất gồ ghề, cực kỳ quanh co khúc khuỷu, chẳng mấy ai đi.

Nói một cách chính thức, mặc cảm là những tư tưởng chất chứa nhiều cảm xúc được tích tập qua bao năm tháng xung quanh một mẫu tượng (archetype), chẳng hạn là “mẹ” và “cha.” Khi mặc cảm đã được hình thành, thì cảm xúc sẽ luôn song hành cùng chúng. Lúc nào chúng cũng tương đối tự chủ. Mặc cảm can dự vào ý định của lý trí và quấy nhiễu hoạt động của dòng ý thức. Chúng gây ra trình trạng rối loạn ký ức và cản trở dòng chảy của sự liên tưởng. Chúng xuất hiện và biến mất theo quy luật của riêng chúng. Trong nhất thời, chúng có thể chiếm hữu dòng ý thức, hay một cách vô thức tác động đến lời nói và việc làm của ta. Nói tóm lại, mặc cảm hành xử như một thực thể độc lập.

Trên thực tế, mặc cảm là những “mảnh hồn” (splinter psyches). Nguyên nhân nguồn cội của chúng thường là những cái mà người ta gọi là chấn động tâm lý, tình cảm hay như những điều đại loại như vậy, làm cho một mảnh hồn nhỏ bị tách rời ra khỏi tâm thức toàn thể.

Hiển nhiên là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất hình thành nên mặc cảm làm xung đột đạo đức, vốn bắt nguồn từ việc rõ ràng người ta không thể nào khẳng định được toàn vẹn bản chất con người mình.

Ngày nay ai cũng biết rằng mọi người đều “sở hữu những mặc cảm.” Nhưng điều được ít người biết đến mà lại quan trọng hơn nhiều về mặt lý thuyết, là những mặc cảm cũng "sở hữu" chúng ta.

Jung nhấn mạnh rằng những mặc cảm tự bản chất không có gì là tiêu cực cả, chỉ có hệ quả mà chúng để lại là tiêu cực mà thôi. Cũng tương tự như việc hạt nhân và phân tử là những cấu phần vô hình tạo nên sự vật, những mặc cảm là những tổ hợp tạo dựng lên ngôi nhà tâm thức và là cội nguồn của tất cả các loại cảm xúc của con người.

Mặc cảm là những tiết điểm hay tiêu điểm của đời sống tâm lý mà ta sẽ không muốn sống thiếu chúng; quả thực, ta không nên sống mà thiếu chúng, bởi nếu không hoạt động tâm lý sẽ đi đến chỗ tịch tịnh.

Hiển nhiên là, những mặc cảm là kết quả của một loại tự ti theo ý nghĩa khái quát nhất… nhưng khi bạn có những mặc cảm thì điều đó không nhất thiết cho thấy bạn tự ti. Điều đó chỉ có nghĩa rằng một cái gì đó bất ổn, chưa được chuyển hóa, đối nghịch đang tồn tại, có thể giống như một sự trở ngại, nhưng cũng như một sự động viên, khuyến khích ta cần phải nỗ lực hơn nữa để có thể, biết đâu đấy, đạt được bước tiến, hay thành tựu mới.

Ở một mức độ nào đó, cực đoan, biên kiến là điều không thể tránh khỏi, và cũng cùng với mức độ ấy, mặc cảm là cũng là điều không thể tránh khỏi.

Hệ quả tiêu cực của mặc cảm mà người ta thường hay trải qua là một sự lệch lạc, méo mó trong một hay vài chức năng tâm lý (cảm tính, lý tính, trực giác và tri giác). Chẳng hạn, thay vì đưa ra đánh giá hợp tình hợp lý và có thái độ ứng xử sao cho phù hợp, thì người ta phản ứng theo sự sai khiến của mặc cảm. Chừng nào người ta còn chưa nhận diện/ý thức được những mặc cảm của mình, thì chừng đó người ta còn có thể bị chúng chi phối.

Việc có những mặc cảm không đồng nghĩa với việc bạn bị nhiễu tâm… và việc chúng gây ra đau khổ không chứng tỏ được rằng chúng là rối loạn bệnh lý. Đau khổ không phải là bệnh tật; nó chỉ là thái cực đối lập với hạnh phúc. Một mặc cảm chỉ trở thành bệnh lý khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta không có nó.

Việc đồng hóa với một mặc cảm, đặc biệt là ẩn nam/ẩn nữ (anima/animus) và bóng âm (shadow), là nguyên nhân thường thấy của chứng nhiễu tâm. Mục tiêu của phân tích tâm lý lúc này không phải là trừ bỏ mặc cảm đó đi - giả sử rằng việc ấy có thể làm được - mà là giảm thiểu đến mức thấp nhất những hệ quả tiêu cực của nó thông qua việc nhận ra nó đóng vai trò gì trong cung cách và thái độ ứng xử của ta.

Người ta chỉ có thể thực sự thoát ra khỏi một mặc cảm khi người ta cho phép nó được giải tỏa ra một cách trọn vẹn nhất. Nói cách khác, nếu ta muốn trưởng thành hơn, ta phải quay trở về với chính mình và nốc cạn chính thứ cặn bã mà, bởi mặc cảm chi phối, ta đã tránh xa.

Nguồn: Daviđ Sharp, Jung's Lexicon, Complex
Đỗ Hoàng Tùng dịch


(*) Chữ "complex" bắt nguồn từ ngữ căn com- mang nghĩa cùng với, và ngữ căn plex mang nghĩa tết, bện kết. Vì thế, nghĩa đen của chữ này có nghĩa là xoắn kết lại với nhau. Còn nghĩa bóng là "không dễ gì phân tích." Như vậy, chữ này đồng nghĩa với chữ phức 複, vốn mang nghĩa rườm rà, phồn tạp, chồng chất. Từ đó, ta có thể dịch complex thành "phức cảm", tức một cảm xúc rắc rối, khó phân định rõ ràng. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh tâm lý học Carl Jung, ta còn có thể dịch complex thành "mặc cảm", tức một cảm xúc âm thầm, lặng lẽ (mặc 默) ngấm ngầm chi phối ta.



Monday, August 3, 2015

Mặc cảm mẫu tử giữa mẹ và con trai


Tóm tắt

Bài viết này sẽ nói về một kiểu quan hệ phổ biến: người đàn ông đóng lại “năng lực cảm nhận” do những trải nghiệm về cha mẹ trong những năm tháng đầu đời. Nguồn gốc của kiểu quan hệ này là khi một đứa bé trai cố gắng thay thế vai trò người cha để đáp ứng những nhu cầu tình cảm của người mẹ, với cái giá phải trả là bỏ qua những nhu cầu của chính nó. Song hiển nhiên là dù đã cố gắng rất nhiều, mức độ đòi hỏi của người mẹ (về mặt cảm xúc) luôn vượt mức khả năng đáp ứng của nó. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới khả năng “kết nối với cảm xúc bản thân” của đứa trẻ sau này. Đây là vấn đề mà rất nhiều người đàn ông ngày nay vướng phải.

Dẫn nhập

Các bé trai học được cách cư xử, quan hệ với phụ nữ chủ yếu là thông qua mối quan hệ với người mẹ và qua quan sát mối quan hệ giữa cha mẹ. Nếu mối quan hệ giữa cha mẹ có vấn đề mâu thuẫn hay xa cách về mặt tình cảm, mối quan hệ của bé trai với người cha cũng có thể bị ảnh hưởng. Rất có thể đứa trẻ sẽ gắn bó về mặt cảm xúc với mẹ theo hướng đóng lại năng lực cảm nhận, điều này sẽ ảnh hưởng đến sự nam tính và cảm thức về một cái tôi độc lập của trẻ sau này. 

Nếu những nhu cầu tình cảm của người mẹ không được người cha đáp ứng, thì rất có thể người phụ nữ đó, một cách vô thức, sẽ cố gắng đáp ứng những nhu cầu ấy bằng cách dùng chính con trai mình như một người thay thế. Những xúc cảm thất vọng của người mẹ trong mối quan hệ với người cha, lúc này sẽ được truyền tải trọn vẹn tới đứa con trai. Đứa con trai cảm nhận sâu sắc sự thất vọng của mẹ nó với bố nó. Và để phản ứng lại những xúc cảm này, đứa con trai mong muốn và cố gắng trở thành một “người đàn ông bé nhỏ hoàn hảo” – người sẽ không làm mẹ nó thất vọng như cha nó đã từng. Trong những năm tháng đầu đời, trái tim của đứa bé trai vốn rộng mở, và lẽ tự nhiên là chúng mong muốn được trở thành “người hùng” trong mắt người mẹ, và lấp đầy sự trống trải của người mẹ với tất cả tình yêu của chúng. Chúng học được cách để làm hài lòng những bà mẹ, nhưng với cái giá phải trả là những nhu cầu của chính chúng, thì lại bị chúng phớt lờ đi.

Một hệ quả nữa là, về mặt cảm xúc, chúng rất khó gần gũi với người cha, song rất coi trọng mối liên kết đặc biệt với người mẹ khi không có sự hiện hữu của người cha. Nhưng điều này cũng có cái giá của nó. 

Đứa bé trai không nhận thức được rằng nó đang theo đuổi một nhiệm vụ bất khả thi – một nhiệm vụ mà chắc chắn nó sẽ thất bại. Sẽ là quá đáng với một đứa trẻ khi đòi hỏi nó phải đáp ứng được hoàn toàn những nhu cầu tình cảm của người mẹ. Cô ấy cần một người đàn ông trưởng thành để làm điều đó. Đứa trẻ khi ấy sẽ bị giằng xé giữa các mặt cảm xúc. Nó không thể là chính nó, nhưng cũng không thể trở thành người (mà nó nghĩ là) mẹ nó muốn nó trở thành. Hậu quả là từ khi còn rất nhỏ, đứa trẻ đã vô thức lựa chọn để trở thành người phù hợp với mong muốn của mẹ chúng, thay vì phù hợp với mong muốn của chính chúng. 

Người cha đã quá tắc trách khi đã không theo sát người mẹ để cùng đem đến cho đứa trẻ một mối liên kết lành mạnh với cha mẹ, để đứa bé trai có thể từ đó mà tiếp tục phát triển “nam tính” lành mạnh sau này. Đứa bé trai buộc phải xa rời sự nam tính nơi tự thân để có thể làm tốt vai trò của mình. Một người cha xa cách và lạnh lùng, một người mẹ luôn khát khao tình cảm, cùng với hình mẫu đàn ông trong văn hóa xã hội - tất cả những điều đó về bản chất đã khuyến khích đứa trẻ lớn lên theo cách đóng chặt trái tim lại và phớt lờ cảm xúc của chính nó đi. 

Thái độ ứng xử của người đàn ông bị "cưỡng đoạt" trái tim 

Trong cuộc sống sau này, khi đứa bé trai đã trở thành một người đàn ông trưởng thành, thái độ của anh ta rất có thể có xu hướng phát triển theo những kiểu sau: 

Anh ta cảm thấy bản thân không đủ tốt. Nếu tận sâu đáy lòng khi còn là một đứa bé, anh ta cảm thấy bản thân không đủ tốt để mẹ mình hài lòng, thì khi đã là một người đàn ông trưởng thành, anh ta cũng sẽ thấy bản thân không đủ tốt để người bạn đời hài lòng. Anh ta trở nên rất nhạy cảm với những lời phê bình và đánh giá, bởi chúng đang khiêu khích “sự nam tính” của bản thân. Anh ta cảm thấy anh ta cần trở nên hoàn hảo, và cảm thấy rất khó khăn để có thể thừa nhận sai lầm mà anh ta đã gây ra trong mối quan hệ. 

Anh ta sợ phải thấy phụ nữ thất vọng. Anh ta không thể chịu được cảnh bạn đời thất vọng, một phần bởi anh ta coi hạnh phúc của bạn đời là trách nhiệm của bản thân. Khi còn là một đứa trẻ, anh ta cho rằng nguyên nhân mẹ mình không hạnh phúc là do mình, và lúc đó anh ta tin rằng anh ta có trách nhiệm xoa dịu cảm xúc của mẹ mình bằng cách làm bà ấy hài lòng. 

Anh ta cố gắng làm phụ nữ hài lòng để khỏi xảy ra xung đột. Anh ta bỏ qua những mong muốn của bản thân để làm phụ nữ hài lòng. Phụ nữ thường sẽ nhận ra ngay lập tức khi một người đàn ông cố gắng thỏa mãn họ để tránh xung đột. Họ sẽ thấy ở đó sự giả tạo. Phụ nữ cảm thấy bị cho ra rìa khi họ nhận ra anh ta đang giấu giếm cảm xúc thực. Cô ta không thể nào nhận thấy một chút nào phản ứng mạnh mẽ của đàn ông từ phía anh ta khiến cô phải phiền lòng. Và khi đó, cô ấy cảm thấy như đang bị khước từ và bỏ rơi. Nó giống như việc anh ta hét thẳng vào mặt cô ta rằng: “em phiền nhiễu quá!” Đây lại thường là điều mà người nữ thường cảm thấy khi còn nhỏ. 

Anh ta cảm thấy quá sức chịu đựng những mong muốn của người bạn đời. Anh ta thường cảm thấy như đang bị áp lực nặng nề trong việc cố gắng đáp ứng những mong muốn của người bạn đời. Anh ta không thể bày tỏ những mong muốn của bản thân bởi những kinh nghiệm trong quá khứ dạy anh ta rằng, đừng để ý tới những mong muốn của bản thân, mà hãy chỉ cố gắng đáp ứng những mong muốn của mẹ anh ta mà thôi. Do đó, nhìn qua thì tưởng anh chàng này có rất ít mong muốn, nhưng thực chất là vì anh ta đang cố kiềm chế chúng lại. 

Anh ta bực bội trước những mong muốn của người bạn đời. Trong vô thức, anh ta cảm thấy giận dữ và khó chịu khi phải cố gắng đáp ứng những mong muốn của mẹ anh ta, và anh ta coi tất cả phụ nữ trên đời này đều giống mẹ anh ta ở một góc độ nào đó. Anh ta tin rằng anh ta đang cố gắng làm tất cả những điều cần phải làm để vun đắp mối quan hệ, và tuy bản thân anh ta thì tự thấy những việc anh ta làm chẳng có vấn đề gì cả, nhưng thực tế thì anh ta đã sai lầm. Anh ta quên không nói những chuyện quan trọng với người bạn đời, hoặc tìm cách chê bai người bạn đời hay dè bỉu mối quan hệ. Và nếu hỏi anh ta rằng sao anh lại phớt lờ người bạn đời của mình, thì có lẽ trong câu trả lời anh ta sẽ không hề nhắc đến sự oán giận của bản thân. 

Anh ta cảm thấy tội lỗi. Anh ta cảm thấy rất mâu thuẫn trong mối quan hệ với người mẹ, việc này là hệ quả của hai luồng cảm xúc trái chiều: tình yêu với người mẹ và cảm giác tiêu cực khi cho rằng người mẹ đã đòi hỏi anh ta quá nhiều. Do đó sau này khi đã trưởng thành, ngay cả với mối quan hệ hiện tại, anh ta cũng sẽ trải nghiệm nó với những cảm xúc mâu thuẫn y hệt như hồi nhỏ. Anh ta gặp khó khăn trong việc xử lý hai luồng cảm xúc “yêu”, “ghét” khi đối mặt với người bạn đời. Khi kìm giữ lại những cảm xúc “ghét”, anh ta đồng thời cũng kìm giữ lại cả những cảm xúc “yêu.” Lâu dài, anh ta cảm thấy bản thân không xứng đáng với tình yêu của người bạn đời, và muốn rời bỏ cô, như một cách bảo vệ cô khỏi “mặt tối” của chính anh ta. 

Anh ta bị ức chế, chán chường, mệt mỏi, mất hết sức sống. Anh ta kìm giữ lại những cảm xúc và năng lượng của bản thân, hoặc chuyển hóa chúng vào công việc. Những người đàn ông đè nén cảm xúc của bản thân xuống theo cách này, thường sau đó sẽ rơi vào trạng thái trầm cảm ẩn tàng. 

Quá trình điều trị hàn gắn "trái tim bị cưỡng đoạt"

Tôi muốn nêu ra một vài phương hướng về cách mà các cặp vợ chồng có thể giải quyết với mặc cảm này trong quá trình tham vấn cho mốiđiều giải . Điều đầu tiên cần nói ở đây đó là chúng ta cần nhìn nhận vấn đề trên quan điểm rằng, vấn đề này nằm ở mối quan hệ giữa hai người, chứ không chỉ do một cá nhân gây ra. Do đó, chúng ta cần xem xét thái độ, hành vi và kiểu mẫu mối quan hệ của cả hai bên: cả người nam lẫn người nữ, để kết luận mức độ phù hợp giữa họ là bao nhiêu. Chúng ta cần tìm hiểu tại sao một cách vô thức, người nữ lại cảm thấy bị cuốn hút bởi người nam – ngay cả khi anh ta đã đóng chặt trái tim lại, và cô ta cần làm gì để có thể hàn gắn những trải nghiệm trước kia trong mối quan hệ gia đình của chính bản thân cô. Chúng ta có thể đặt ra câu hỏi rằng trong mối quan hệ, điều gì mà hai người đã cùng cố gắng để đạt được kết quả tốt nhất? Và ta sẽ thấy rằng, so sánh một cách tương đối, việc tương tác với cả hai bên cùng lúc để xử lý “mâu thuẫn”, luôn tỏ ra có hiệu quả hơn nhiều so với việc chỉ tương tác với một cá nhân – một phía. 

Mục đích của bài viết này là tập trung vào những “mâu thuẫn” trong mối quan hệ của người đàn ông. Dưới đây sẽ liệt kê một vài thách thức mà anh ta có thể sẽ phải đối mặt trong quá trình đương đầu với hội chứng “trái tim bị cưỡng đoạt.” 

Anh ta nhận ra cung cách ứng xử hiện tại của bản thân hình thành từ những trải nghiệm trong quá khứ 

Trong cuộc sống gia đình xuyên suốt những năm tháng đầu đời, mỗi cá nhân dù ít hay nhiều đều có những “vấn đề mắc mớ". Ở một mức độ nào đó, sự hấp dẫn lẫn nhau giữa hai cá thể bắt nguồn từ sự tương hợp mang tính vô thức giữa hai người. (Người nam tiếp tục đóng vai "người chăm sóc", còn người nữ - thay thế bà mẹ - đóng vai người thiếu thốn, khao khát tình cảm. - ND) Thật thất vọng khi nhận ra rằng thực chất cả hai cá thể đều chỉ đang cố gắng tái hiện lại “hình ảnh gia đình trong những năm tháng đầu đời” của bản thân ở mối quan hệ hiện tại. Việc nhận ra sự thật này có thể gây tác động lớn tới cá thể nam, làm thay đổi hệ thống quan điểm và nhận thức của anh ta, bởi lúc này anh ta đã hiểu bản chất của những mối quan hệ, thực ra chỉ là một khối liên kết vô thức – thứ đang cho anh ta cơ hội để trở nên trọn vẹn, đặc biệt là về mặt cảm xúc. 

Và giờ, thay vì đổ lỗi cho người bạn đời của mình vì không giống “cha mẹ hoàn hảo của anh ta”, anh ta bắt đầu xem xét điều gì đang diễn ra, thông qua con mắt và cảm xúc đến từ quá khứ. Việc nhận diện ra mối liên hệ giữa những gì anh ta đang trải nghiệm trong mối quan hệ hiện tại và những gì anh ta từng cảm thấy trong “cuộc sống gia đình những năm tháng đầu đời” giúp anh ta “ý thức” được những gì vốn “vô thức”. Điều này sẽ giúp anh ta không còn bị ám ảnh hay bị điều khiển bởi quá khứ nữa. 

Với nhiều người đàn ông, có thể rất khó để khiến họ hiểu và công nhận rằng có sự liên hệ giữa bạn đời anh ta và mẹ anh ta. Họ không hình dung nổi liệu có gì liên quan giữa hai người đó. Họ có thể vẫn nghe bạn nói đấy, nhưng sẽ cho rằng bạn chỉ đang cố lòe họ với những “thuật ngữ tâm lý” nghe có vẻ phức tạp để làm tăng tính thuyết phục hơn thôi. Sẽ luôn tồn tại một cơ chế cố gắng bảo vệ những “hình ảnh về cha mẹ anh ta” trong tâm trí anh ta. Anh ta cần cân nhắc để hiểu rõ việc cha mẹ anh ta đã làm tốt nhất những gì họ có thể là một chuyện, còn sự thiếu thốn tình cảm trong mối quan hệ giữa họ đã gây tác động lớn tới anh ta thì lại là chuyện khác. Do đó, việc xem xét cung cách ứng xử trong những năm tháng đầu đời ảnh hưởng thế nào tới cách anh ta ứng xử với người bạn đời hiện tại là rất quan trọng. 

Anh ta kiểm soát được nỗi sợ hãi trong mình

Anh ta biết cách kiểm soát nỗi sợ hãi bị cảm xúc lấn át. Anh ta nhận ra rằng người bạn đời của anh ta mạnh mẽ (về mặt cảm xúc) hơn anh ta tưởng. Là một người hoàn toàn trưởng thành, cả về mặt tinh thần và thể xác, anh ta không cần dựa vào việc cố gắng xoa dịu cô ta để được an ổn nữa. Tất nhiên, anh ta vẫn hoàn toàn có thể cố gắng làm cho cô ấy cảm thấy hạnh phúc, miễn là anh ta hiểu rằng, khi cô ấy thất vọng, buồn chán hay lo âu thì không phải lúc nào cũng là lỗi của anh ta, và anh ta không cần phải cảm thấy mặc cảm hoặc tự trách bản thân. Anh ta không phải chịu trách nhiệm về hạnh phúc của cô ấy. (Tất nhiên, đây chỉ là một cách nói tương đối, không có nghĩa là người nam không cần cố gắng làm người nữ hạnh phúc, mà chỉ muốn nhấn mạnh là người nam không nên tự trách hoặc đổ lỗi cho bản thân khi thấy bạn đời của mình không hạnh phúc. Nguyên nhân khiến cô ấy không hạnh phúc có rất nhiều. - ND) 

Anh ta cảm nhận được cảm xúc của nàng 

Anh ta học cách lắng nghe và cảm nhận cảm xúc thực sự của cô ấy mà không coi đó là chuyện của mình. Anh ta đã biết cách phân biệt đâu là những chuyện anh ta cần chịu trách nhiệm, đâu là những chuyện thuộc về quá khứ của cô ấy. Đồng thời anh ta cũng nhận ra rằng, lắng nghe những gì cô ấy nói và cảm nhận, luôn tốt hơn là chỉ suy xét bằng lý trí mà không cảm nhận bằng cả trái tim. 

Anh ta điều chỉnh lại thái độ và hành vi của bản thân 

Anh ta nhận ra rằng người bạn đời của anh không thực sự cố ý muốn chỉ trích hay xỉa xói anh. Cô ấy chỉ muốn cảm xúc của bản thân được thừa nhận mà thôi. Cô ấy hiểu những vấn đề nào cần được chú ý trong việc duy trì mối quan hệ, và mong muốn anh ta điều chỉnh lại bản thân bằng cách nói ra những gì anh ta thực sự nghĩ và cảm thấy, hơn là suốt ngày lặp đi lặp lại cụm từ “xin lỗi” vô nghĩa và sáo rỗng để rồi sau đó vẫn chứng nào tật nấy. 

Anh ta trở nên nam tính, mạnh mẽ hơn 

Anh ta nhận ra rằng người bạn đời của anh không thể tạo ra, phá vỡ hoặc lấy đi sự nam tính (có sẵn) trong con người anh ta. Từ sự giác ngộ này, anh ta có được lòng can đảm để sẵn sàng xuất hiện bên cạnh cô và tiếp nhận cô khi cô ấy chán nản hay thất vọng. Anh ta không cần phải cố gắng bảo vệ “sự nam tính” của bản thân bởi thực chất không có gì đe dọa nó cả. Anh ta tiếp nhận sự hỗ trợ từ những người đàn ông khác để trở nên nam tính, mạnh mẽ hơn và tái kết nối tới sự nam tính trong minh. 

Anh ta tái kết nối tới cảm xúc thực sự của mình

Anh ta học được cách thể hiện cảm xúc, suy nghĩ và mong muốn thực sự của bản thân. Sau nhiều lần chú ý mỗi khi “mất kết nối” với người bạn đời, anh ta trở nên thông minh và tinh tế hơn khi điều chỉnh cảm xúc, nhờ đó anh ta vẫn có thể có “khoảng nghỉ” cho riêng mình mà không khiến cho người bạn đời cảm thấy bị bỏ rơi. 

Anh ta hợp nhất được với “mặt tối” bên trong mình 

Những cảm xúc bị anh ta cố gắng kìm nén, sẽ quay lại “cắn trả” và điều khiển anh ta. Nhờ hiểu được điều này, anh ta nhận ra rằng “bản năng hoang dã giống đực / mặt tối” bên trong mình đóng vai trò rất lớn trong việc đem lại “sinh lực” và “đam mê” cho mối quan hệ. Khi anh ta thể hiện ngày càng nhiều xúc cảm của bản thân hơn, thì đồng thời cũng sẽ có càng nhiều chỗ cho cảm xúc “yêu” và “ghét” hơn. Anh ta học được cách ứng phó với tổn thương và nỗi sợ bị tổn thương. Anh ta “tái kết nối” tới cảm xúc thực sự của bản thân và rộng mở trái tim mình. Kết quả là, anh ta chấp nhận bản thân là một phần của mối quan hệ, những hành động của anh ta xuất phát từ thâm tâm chứ không còn là “sự tái hiện vô thức” cách anh ta phản ứng với mẹ mình nữa. 

Kết luận

Những cung cách ứng xử đã ăn sâu bám rễ sẽ đòi hỏi nhiều thời gian và công sức phân tích hơn. Công việc này là một quá trình lâu dài, chứ không đơn thuần chỉ là “mì ăn liền” – một “phép sửa nhanh chóng.” Quá trình tham vấn cho quan hệ mang lại cho chúng ta cơ hội để tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn những gì đang diễn ra trong mối quan hệ. Đây là một quá trình vô cùng hữu dụng trong việc nhận diện ra những cung cách ứng xử nào là kết quả của những trải nghiệm trong quá khứ, tiêu trừ sự oán giận và đưa ra cách nhìn mới về bản chất mối quan hệ. Những trải nghiệm có được khi tham gia quá trình tham vấn mối quan hệ, ví dụ như việc cùng nhau tìm ra giải pháp trong và giữa những buổi tham vấn sẽ giúp cho các cặp đôi cảm thấy gắn bó với nhau hơn, và cảm thấy dễ dàng hơn khi cùng nhau giải quyết mọi việc. 

Nhữ Duy Anh dịch

Tuesday, July 7, 2015

Tóm tắt các hệ quả của tổn thương tâm lý thời thơ ấu

  1. Lụy thuộc. Không có một bản sắc, cá tính rõ ràng, hay thay đổi theo ý kiến người khác. Tâm hồn mỏng manh, dễ bị cảm xúc chi phối. Hay thương người, nhưng cũng hay tự ái, tủi thân (thương mình). Nghĩ mình là nạn nhân của cuộc đời. Cảm giác bất lực, tuyệt vọng. (Chi tiết xem ở đây.)
  2. Hung hăng & giận dỗi. Quá nhạy cảm, dễ phản ứng với những điều không ưng ý. Biểu hiện ra bên ngoài: nếu là người mạnh mẽ, dễ gây hấn, động chân động tay, có xu hướng phá hủy các mối quan hệ; nếu là người yếu mềm, dễ giận dỗi. (Chi tiết xem ở đây.)
  3. Ngây thơ & hoài nghi. Thường giao động giữa hai thái cực: hoặc quá dễ dàng tin vào những gì ngừời khác nói mà không hề nghi ngờ, thắc mắc; hoặc quá ngờ vực, đa nghi, luôn nghĩ người khác đang chực chờ lợi dụng, ám hại mình. Hoặc tin rằng một phép màu nào đó sẽ khiến mình đổi đời; hoặc tin rằng mình chẳng thể làm gì để cuộc sống tốt đẹp hơn. (Chi tiết xem ở đây.)
  4. Lặp lại quá khứ đau khổ. Các vấn đề trong mối quan hệ từ thời thơ ấu tiếp tục “tái diễn” trong mối quan hệ hiện tại. Trong thời thơ ấu bị người khác đối xử tệ hại ra sao, thì khi trưởng thành, người ta sẽ “tiếp thu” và tự đối xử với mình tệ hại như thế. (Chi tiết xem ở đây.)
  5. Rối loạn ái kỷ. Luôn cảm thấy thiếu thốn tình yêu thương, sự chăm sóc. Đòi hỏi sự quan tâm, chiều chuộng quá mức từ những người thương yêu mình. Để rồi, đến một lúc nào đó, thất vọng về tất cả mọi người. Tìm kiếm một cuộc sống vật chất đủ đầy và danh tiếng để có được cảm giác giá trị, sự tự tin. (Chi tiết xem ở đây.)
  6. Trầm cảm & nghiện ngập: Cảm giác cuộc sống vô nghĩa, trống vắng. Sống như diễn kịch, cốt chỉ để đáp ứng những mong đợi của xã hội. Thường rơi vào vòng xoáy nghiệp ngập sa đọa dẫn tới tự hủy hoại bản thân. (Chi tiết xem ở đây.)
  7. Khắc kỷ & phóng dật. Một số người quá nghiêm khắc với bản thân theo những nguyên tắc cứng nhắc. Còn lại đa số là quá buông thả, phóng túng theo bản năng, sở thích. 
        (Chi tiết về từng chứng trạng, mời xem ở đây.)

Đỗ Hoàng Tùng

Một số phương pháp trị liệu tổn thương tâm lý thời thơ ấu



  1. Trị liệu bằng thôi miên: Qua tưởng tượng, người ta có cơ hội quay trở về và thay đổi những ký ức đau thương của mình. 
  2. Trị liệu bằng kể chuyện: Người ta luôn bị hấp dẫn bởi những câu chuyện., đặc biệt là trẻ con. Đối với đứa trẻ trong ta cũng vậy, được nghe kể và phân tích chuyện cổ tích có thể giúp cho những vết thương lòng phần nào được giải tỏa và hàn gắn. 
  3. Trị liệu bằng trò chơi: Dựa trên thực tế là trò chơi là phương tiện tự nhiên để đứa trẻ trong bạn bộc lộ ra. Thông qua các chất liệu như cát, đồ chơi, đứa trẻ trong bạn có cơ hội bộc lộ ra nhưng cảm xúc và vấn đề của mình thông qua các biểu tượng mà không phải đùng đến ngôn ngữ. 
  4. Trị liệu bằng viết thư: Qua bàn tay không thuận (thường là tay trái, vốn được chỉ huy bởi não phải - nơi chất chứa nhiều cảm xúc bị dồn nén), việc viết ra giúp cho đứa trẻ trong ta có cơ hội được trao đổi thông qua ngôn ngữ. Qua đó, nó có thể bộc lộ những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực. Viết ra cũng là cách để đứa trẻ trong ta hoạch định cho mình một cuộc sống tốt hơn. 
  5. Trị liệu bằng nghệ thuật: Tạo cơ hội cho đứa trẻ trong ta bộc lộ ra những tư tưởng và cảm xúc tiêu cực thông qua các bộ môn nghệ thuật sáng tạo như hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, cắt dán... Chính quá trình sáng tạo nghệ thuật chứ không phải thành phẩm nghệ thuật có tác dụng hàn gắn tâm hồn. Ở đó nghệ thuật được coi là sự biểu hiện của cuộc độc thoại nội tâm của đứa trẻ trong ta, qua đó giải tỏa được những hiểu biết và niềm tin không còn hữu hiệu, đồng thời phục hồi lại niềm tin tưởng, hy vọng vào cuộc sống, cũng như sự tự tin, tự chủ và năng lực bản thân.
  6. Trị liệu bằng nhảy múa: Nhảy múa là một trong những cách bộc lộ cảm xúc căn bản. Nó được dùng để giải tỏa năng lượng của các cảm xúc ra bên ngoài. Trị liệu bằng nhảy múa giúp cho đứa trẻ trong ta nhận biết bản thân tốt hơn, khả năng tập trung tốt hơn và có thể được dùng như một phương pháp để nhanh chóng giải tỏa mặc cảm tự ti. 
  7. Trị liệu bằng chánh niệm tỉnh giác. Thường xuyên và liên tục, thực tập đưa sự chú ý về nhận diện những gì đang xảy ra trên thân và tâm. Từ đó, nhận ra và dần thoát khỏi sự chi phối của những nguyên mẫu hành vi ứng xử (trên ba bình diện: suy nghĩ, cảm xúc và hành vi) đã trở thành thói quen tự động vô thức. 
  8. Trị liệu bằng âm nhạc: Âm nhạc được dùng trong rất nhiều hình thức để tạo ra những hành vi như mong muốn và gợi mở cho những nỗi niềm u uẩn vốn đã chôn kín trong lòng được giải tỏa ra. Âm nhạc giúp người ta bớt bất an, tăng conwfg giai tiếp phi ngôn ngữ và khả năng tự điều chỉnh bản thân. Trị liệu bằng âm nhạc có thể kết hợp với vệc sử dụng các nhạc cụ, giọng hát, viết nhạc và phân tích bản nhạc/bài hát đã được thân chủ sáng tác.

Đỗ Hoàng Tùng

Tham khảo:

John Bradsaw, Homecoming
Lucia Capacchione, Recovery of your inner child
Gabrielle Roth et al., Maps to Ecstasy - The Healing Power of Movement
Juliann Steinbeigle, Inner Child Expressive Therapy

Thich Nhat Hanh, Reconciliation: Healing the Inner Child
Stephen Wolinsky, The Dark Side of The Inner Child: The Next Step
Clarissa Pinkola Estés, Warming the Stone Child.

Friday, March 27, 2015

Đi tìm người yêu muôn thủa nơi đâu?

"Anh nài đi lạc" (1948) - René Magritte

Trong album "10 bài Đạo ca" của Phạm Duy, bài số 3 mang tựa đề "Chàng dũng sĩ và con ngựa vàng (Ảo hóa)", có đoạn dẫn nhập đầy ẩn dụ như sau: 
"Đưa ra hình ảnh một chàng dũng sĩ cưỡi con ngựa vàng đi tìm người yêu muôn thủa. Đi hết năm tháng, đi khắp mọi nơi, đi cho tới khi áo bào đã sờn rách, ngựa hồng đã đổi lông mà vẫn không kiếm ra người yêu lý tưởng. Thế rồi một hôm, đi qua con sông gầm sóng, ngựa vàng bỗng hóa thành người đẹp mà dũng sĩ ra công đi tìm. Thì ra, bấy lâu nay chàng dũng sĩ ngồi lên sự thực mà không biết."
Mới nghe qua, ta những tưởng chàng dũng sĩ, với khát khao "đi tìm người yêu muôn thủa", đang cầm cương điều khiển chú ngựa phi nước đại. Nhưng đó chỉ là biểu hiện trên bề mặt, trên phương diện hình tướng. Câu chuyện với tình tiết đầy kỳ ảo của Phạm Duy buộc ta phải đào sâu hơn thế.

Dưới nhãn quan tâm lý học phân tích (analytic psychology), ta có thể hiểu con ngựa ở đây biểu tượng cho nguồn sinh lực trong tâm hồn chàng dũng sĩ. Nói cách khác, con ngựa-dục vọng mới chính là cái thôi thúc chàng dũng sĩ cất bước đi tìm người tình lý tưởng. Bởi theo Marie-Louise von Franz, thì "loài ngựa biểu tượng cho một dạng sinh lực bên trong tâm hồn có thể khơi dậy suối nguồn vô thức. (Horse symbolizes a kind of domesticated vital libido which bring forth the well of unconscious.) (1) 

Qua biết bao nhiêu năm tháng đi tìm kiếm, từ hăm hở hy vọng đến tuyệt vọng buông xuôi, trước "con sông sóng gầm", cái tôi của chàng dũng sĩ mới biết chấp nhận sự thật: chằng thể "hướng ngoại cầu huyền."

Cũng chính vào lúc đó, nguồn sinh lực từ trong vô thức trỗi dậy, chàng dũng sĩ mới nhận ra sự thật: người yêu lý tưởng và bất tử vốn đã có sẵn trong lòng mình. Con ngựa vàng ở đây chính là hình ảnh tượng trưng cho nữ tính ẩn tàng trong tâm thức chàng dũng sĩ. Phần nữ tính trong người nam đó, cái tôi nữ tính đó, 
(có người dịch là "linh âm") Jung gọi đó là anima.

Nhưng không hướng ngoại cầu huyền mới chỉ là điều kiện cần, còn để cho người tình muôn thủa trong ta thức dậy, thì còn rất nhiều việc phải làm. Jung khuyên ta nên chủ động tưởng tượng ra một hình tướng cho nàng, rồi hằng ngày ngồi đối thoại với nàng (2). Aletheia Luna thì cho ta nhiều lời khuyên hơn (3). Cụ thể như sau:
  • Thực tập lắng nghe với sự quan tâm chân thành và lòng từ bi
  • Tái khám phá cái tôi cảm xúc của bạn thông qua những cử chỉ ân cần, âu yếm 
  • Nuôi và chăm sóc một vài con vật, trồng và chăm bón một vài loại cây 
  • Suy xét về nhu cầu của những người xung quanh mình
  • Bộc lộ cái tôi nữ tính qua các hoạt động sáng tạo như âm nhạc, mỹ thuật, điêu khắc, thơ ca...
  • Thực tập chánh niệm, thiền quán hay các phương pháp khác để nhận diện và thấu hiểu những cảm xúc của mình
  • Mở rộng những mối quan tâm, sở thích sao cho cái tôi nữ tính hiện diện nhiều hơn trong cuộc sống của bạn
  • Thực tập tự tìm hiểu, khám quá bản thân, để hiểu rõ hơn về nhu yếu được hiểu, được thương, được đầy đủ, được viên mãn trong mình
Đỗ Hoàng Tùng

Ghi chú:

1. Marie-Louise von Franz, Shadow and Evil in Fairy Tales
2. David Sharp, Jung Lexicon
3. Aletheia Luna, Anima and Animus: How to Harmonize Your Masculine And Feminine Energies

Thursday, March 26, 2015

Vai trò của trẻ có cha mẹ nghiện ngập


Bên cạnh việc gia đình có người nghiện rượu, tình trạng nghiện ngập của bố mẹ cũng là vấn đề không nhỏ đối với tâm lý của con cái.

Nếu gia đình bạn luôn lảng tránh vấn đề này, cho rằng tình trạng nghiện ngập đó chỉ là một thói quen xấu hay do ý chí yếu ớt chứ không phải là một căn bệnh có thể "lây lan" cho cả gia đình thì đó quả là một nguy cơ lớn vì những đứa trẻ có bố mẹ nghiện ngập sẽ phải gánh vác một trong bốn vai trò sau:

Vai trò của một anh hùng trong gia đình

Đó là một đứa trẻ hết sức ngoan ngoãn và phục tùng. Nó sẽ luôn phải tạo ra những thành tích cao nhất mà nó đạt được trong mọi lĩnh vực. Thầy cô giáo và bố mẹ không bao giờ cảm thấy "có vấn đề" nơi đứa trẻ này, thậm chí nó còn trở thành niềm tự hào của gia đình và trường học.

Thực ra, rất nhiều điều những đứa trẻ ấy phải cố gắng làm lại không xuất phát từ niềm say mê của chính nó, mà chỉ đơn giản là nó muốn được người xung quanh cổ vũ, để người ta nhận ra nó, khen ngợi nó và để có thể là đứa trẻ tốt hơn mọi đứa khác.

Với những suy nghĩ và hành động kiểu ấy, đứa trẻ sẽ có vẻ gần giồng như một người lớn tý hon: nghiêm túc, trách nhiệm và luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người xung quanh. Nó sẽ vô cùng lo lắng trước bất kỳ lỗi lầm nào của mình, với nó, điểm 8, 9 cũng đã là một thảm họa. Nó không cho phép mình sai sót vì sai sót nghĩa là không hoàn hảo. Nó hoàn toàn không cảm thấy chính giá trị của mình, phẩm chất của mình mà chỉ cảm thấy điều đó khi được người xung quanh khen ngợi. Và thế là những người lớn trong gia đình sẽ thản nhiên đặt gánh nặng trách nhiệm lên vai đứa trẻ ấy (những công việc nhà, chuyện trông nom các em nhỏ hay việc học hành...)

Khi đứa trẻ ấy lớn lên: Tinh thần sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm về mọi việc và thay cho tất cả mọi người sẽ đeo đẳng suốt cuộc đời của họ. Những đứa trẻ này khi lớn lên sẽ trở thành người vô cùng "ham công tiếc việc", chúng sẽ lựa chọn những người đồng hành có cảm xúc yếu đuối, bất lực thậm chí nghiện ngập, bởi chỉ những người đó mới luôn cần sự giúp đỡ, bảo bọc nương tựa. Và khi ở bên cạnh những người như thế, họ thấy mình có ý nghĩa và cần thiết. 

Vai trò của một vật hy sinh

Đó là đứa trẻ không đủ sức mạnh và khả năng để có thể nhận được những lời khen ngợi hay sự chú ý của người lớn xung quanh. Chúng ít khi được khen ngợi vì những thành tích đặc biệt, và chẳng ai chú ý đến việc động viên chúng. Nhưng, là một đứa trẻ, chúng vẫn cần được chú ý, vì thế chúng tìm đến điều đó bằng một con đường khác: chúng xấc xược, bỏ học, đánh nhau với bạn bè. Bên trong những đứa trẻ ấy luôn chất chứa sự đau đớn và cả lòng hận thù mà chúng không thể nào điều khiển nổi. Vì thế, chúng không có sức mạnh vượt qua những khó khăn mà chúng gặp phải trên đường đi.

Những đứa trẻ này rất sợ nhìn thấy hậu quả thực sự từ những hành động của mình. Thiếu thốn sự nâng đỡ cần thiết của người lớn, chúng tìm đến một cách khác để vượt qua những khó khăn của bản thân: chúng sẽ liên kết với những nhóm người mang đến cho chúng sự giúp đỡ ấy, rất nhiều đứa trẻ dạng này sẽ là con nghiện ma túy hay rượu chè và trở thành những tội phạm.

Những hành động "có vấn đề" của những đứa trẻ - vật hy sinh - thực hiện một vai trò lớn với gia đình : nó làm người ta quên lãng sự nghiện ngập của bố mẹ. Các bậc phụ huynh có thể phải lo lắng suốt ngày với việc xử lý những chuyện của chúng thay vì giải quyết những vấn đề của chính mình. Luôn luôn họ có thể đổ lỗi lên đầu vật hy sinh tội nghiệp này và có một cái cớ tuyệt vời để tìm đến những cảm xúc tiêu cực.

Khi đứa trẻ ấy lớn lên: Cứng đầu, thù địch, luôn đổ trút mọi trách nhiệm lên vai người khác, cá tính này sẽ ảnh hưởng lớn đến tương lai họ: họ khó thành công và không có khả năng hoàn thành những trách nhiệm của mình.

Vai trò của một chú hề

Đứa trẻ có thể sắm cho mình một cái mặt nạ chú hề: nó luôn luôn rất vui vẻ, hài hước, hay đùa giỡn làm vui cho mọi người. Tuy nhiên, không phải lúc nào sự hài hước ấy cũng đúng chỗ và dần dần nó trở nên nguy hiểm với mọi người xung quanh. Đằng sau những hành động ấy của chúng là sự thiếu tự tin vào bản thân, nỗi sợ hãi xây dựng các mối quan hệ thân thiết, sợ những va chạm buồn khổ có thể xảy ra.

Đứa trẻ luôn sợ bị chế nhạo và vì thế nó quay ra chế nhạo mọi người, thậm chí chế nhạo chính bản thân và tự nghĩ rằng: "chả có gì quan trọng". Những người lớn thường phạm phải sai lầm khi nghĩ rằng với chúng đúng là "chả có gì quan trọng", dù là cười nhạo mọi người hay bị mọi người cười nhạo.

Khi bắt đầu trở thành một chú hề, đứa trẻ không bao giờ dừng chuyện đó lại được. Nếu bạn chỉ có một mình với nó, nó có thể rất nghiêm trang, nhưng chỉ cần rơi vào một nhóm bạn bè cùng tuổi là nó thay đổi ngay, bắt đầu nhạo báng người xung quanh.

Những hành động đó của đứa trẻ chính là để thoát khỏi sự căng thẳng của gia đình, để có được cảm giác thoải mái, nhẹ nhõm. Không khí gia đình càng căng thẳng, nó càng muốn "sáng tác " ra những trò hề mới để quên đi mọi chuyện. Điều đó biến thành phong cách sống của nó: khi những vấn đề nghiêm trọng xuất hiện, nó sẽ cố gắng làm dịu bớt chuyện đó bằng sự vui đùa, miễn là không phải đối diện với thực tế, không phải giải quyết chúng.

Khi đứa trẻ ấy lớn lên: Những đứa trẻ này sẽ vĩnh viễn là chú hề, chúng không bao giờ trưởng thành, chín chắn và không có khả năng xây dựng những mối quan hệ tình cảm sâu sắc

Vai trò một thiên thần bí mật

Với những đứa trẻ này, cha mẹ chúng thật thoải mái: "Dù cuộc sống có phức tạp đến đâu, chỉ cần may mắn có một đứa con như thế là đủ, chẳng phải lo lắng gì về nó, nó cứ tự lớn lên mà mình không kịp nhận ra". Đó sẽ là những đứa trẻ rất trầm lặng, rụt rè, chúng có thể ngồi một mình cả ngày với những ước mơ, tưởng tượng, không để ý đến mọi mâu thuẫn trong nhà. Nó thường có rất ít bạn bè mà có mối liên hệ mất thiết hơn với những món đồ đạc. Và, sẽ rất hiếm khi bạn phải băn khoăn với những câu hỏi như: lẽ nào nó không cần thể hiện ý nghĩ của mình? lẽ nào nó không bao giờ bất bình hay giận dữ?

Tất nhiên sự thực không phải như thế. Những đứa trẻ này cư xử như vậy chỉ vì nó luôn có cảm giác về sự hiện diện không cần thiết, không quan trọng của mình. "Chẳng ai quan tâm đến mình cả". Nó sống với tình cảm luôn sợ hãi, lo lắng rằng nếu có gì xảy ra, nó cũng chỉ có một mình trong khi cha mẹ cứ để nó sống như thế, hoàn toàn một mình, thậm chí còn tự hào về điều đó. Tài năng thực sự không bao giờ xuất hiện ở những đứa trẻ như thế, bởi chúng không chỉ không tin tưởng vào bản thân mà còn tin rằng chẳng có ai và chẳng có gì đáng quan tâm thực sự trên đời 

Khi đứa trẻ ấy lớn: Đó sẽ là những con người sống khép kín, ít có những điều thực sự cuốn hút anh ta. Trên cái nền tâm lý ấy sẽ xuất hiện những biểu hiện tiêu cực, dẫn đến những căn bệnh thần kinh khác.

Tất cả những "mặt nạ" được miêu tả trên giúp cho đứa trẻ "sống sót" trong tình cảnh mà chúng rơi vào nhưng khi trưởng thành, chúng sẽ mang những vai trò ấy vào cuộc sống của mình và không thể tự thoát ra được. Vì thế, bất cứ đứa trẻ nào trong bốn loại trên, cũng cần đến sự giúp đỡ một cách hệ thống của các chuyên viên tâm lý, điều đó còn khó khăn hơn cả việc chạy chữa thói nghiện ngập của cha mẹ chúng.


Nguồn: afamily